Entry for December 20, 2006

CHIÊU HỔN THẬP LOẠI CHÚNG SINH

“Chiêu hồn Thập loại chúng sinh” (CHTLCS) là một trong số những kiệt tác của Nguyễn Du, tác giả Truyện Kiều. Mỗi năm, cứ vào dịp Rằm tháng Bảy âm lịch, nhiều người Việt Nam chúng ta lại nhớ đến bài thơ đầy tính nhân văn này, mặc dù không thấy ai sử dụng nó trong việc cúng tế cô hồn.

Theo quan niệm từ xưa của dân tộc ta thì người chết có hai dạng : chết bình thường và chết không bình thường. Chết bình thường là chết vì tuổi già, vì bệnh. Chết không bình thường là chết do các loại tai nạn, gươm giáo, tên đạn gây ra ; dạng chết thứ hai gọi là “bất đắc kỳ tử”. Cũng theo quan niệm xưa những người chết “bất đắc kỳ tử” phải trở thành cô hồn là khi chết không được chôn cất hoặc chôn cất nhưng không có thân nhân biết và bảo quản mộ phần, không người thờ cúng. Số linh hồn này xuống âm phủ thì bị giữ lại chốn địa ngục, không đượ? xét cho đầu thai, cùng chịu chung cảnh giam cầm tội nghiệp.

Cô hồn cũng là những linh hồn nhưng bị cô độc, không người thờ phụng. Mỗi năm, theo quan niệm xưa, có một ngày là ngày Rằm tháng Bảy âm lịch, tất cả cô hồn bị giam cầm đều được thả khỏi các cửa ở địa ngục để hưởng tự do trong một ngày một đêm ; ngày ấy có tên là “Xá tội vong nhân”. Với lòng nhân ái vốn là bản sắc dân tộc, người còn sống trên trần thế nhân ngày này sắm sửa tế phẩm để tưởng niệm chung như một ngày giỗ hội những linh hồn đau khổ, không được thờ phụng, không cõi đi, về.

Từ xưa, đạo Phật gọi ngày Rằm tháng Bảy là lễ “Trung Nguyên”, “Vu Lan Bồn” (phiên âm từ tiếng Phạn “Ullambhana” : giải thoát).

Cúng cô hồn, theo tục lệ xưa là do từ ý nghĩa ấy và chỉ diễn ra trong một ngày một đêm Rằm tháng Bảy. Tất cả cũng chỉ là việc làm tượng trưng, biểu hiện đạo lý của dân tộc ta về tình đồng bào đồng loại, “thương người như thể thương thân”, “sự tử như sự sinh, sự vong như sự tồn” … Kỳ dư, nào ai biết chính xác “cõi âm” như thế nào đâu ?

Tố Như tiền bối trước tác phẩm CHTLCS cũng dựa trên quan niệm và tín ngưỡng nhân gian ấy, tất nhiên là ảnh hưởng sâu tinh thần Vu Lan của Phật giáo, nhưng chủ yếu là nhằm miêu tả một phần về số phận con người đã chịu mọi bất hạnh dưới thời phong kiến (bị áp bức, khổ đau, nghèo đói, loạn lạc, nhiễu nhương) mà chết. Bài thơ là một tác phẩm văn chương của một thời đại trong kho tàng văn hóa dân tộc chứ không phải một bài để cúng.

Trước nay, không ít người gọi bài Văn chiêu hồn này là “Văn tế thập loại chúng sinh”. Gọi như vậy là không đúng, vì văn tế chỉ để tế ngay người vừa mới từ trần, thông thường là chưa mai táng. Lẽ khác, một thi hào kiệt xuất như Nguyễn Du, quá thành thạo về mọi thể văn cử nghiệp, nếu muốn làm bài văn tế cô hồn chắc chắn tác giả đã sử dụng thể văn tế đúng công thức Đường phú với ngũ đoạn mạch, toàn bài toàn những câu thể đối như song quan, cách cú, hạt tất… Văn tế có giá trị kỷ thuật cao nhưng khó phổ biến sâu rộng trong quần chúng. Bài CHTLCS lại chỉ là bài thơ song thất lục bát dạng trường, dễ hiểu, dễ thuộc, dễ sử dụng đối với mọi tầng lớp người trong xã hội. Chọn thể thơ này hẳn là dụng ý của tác giả. Bài thơ không nhằm tế ngay người vừa từ trần như văn tế, mà chiêu (vẫy mời lại) nhiều hồn đã trở thành cô hồn, không phân biệt cũ, mới, địa vị xã hội lúc sinh thời và cách chết.

Hương lửa đã không nơi nương tựa
Hồn mồ côi lần lửa bấy niên

Còn chi ai khá, ai hèn

Còn chi mà nói kẻ hiền, người ngu!

Bài CHTLCS gồm 184 câu thơ song thất lục bát. Tác giả gọi “Thập loại” là chỉ về số nhiều chứ không phải chẵn mười loại; và “chúng sinh” trong bài không gồm cả thực, động vật mà chỉ nói về con người. Chủ thể của tác phẩm là 27 cách “bất đắc kỳ tử” của nhiều người thuộc nhiều thành phần trong xã hội phong kiến ở thời đại tác giả. Từ câu 21 đến câu 136, tác giả đã “chiêu” các “hồn”: tranh bá đồ vương bị thua mà chết, phu nhân quyền quý của các vua chúa, công hầu gặp phen “thay đổi sơn hà” phải tự vẫn, kẻ làm chính trị thất nhân tâm bị giết, những tướng soái “dải thây trăm họ làm công một người” cuối cùng bị chết thảm, những kẻ ham làm giàu đến “nhịn ngủ quên ăn”, người bỏ quê nhà đến chốn kinh đô, thành thị mong cầu chữ “Quý”, kẻ làm ăn dọc ngang sông biển, người đi buôn bán đường xa, những quân sĩ chềt trận vô danh, gái lỡ làng buôn nguyệt bán hoa, người hành khất, kẻ mất vong tù tội, kẻ sơ sinh tử vong, những người bị thuyền chìm, lũ cuốn, té cây, nhảy giếng, thắt cổ tự tử, chết vì hỏa hoạn, vì ác thú, cá dữ, hữu sinh vô dưỡng, hoại thai…

Chữ “Tâm” của tác giả dàn trải khắp tác phẩm, nhưng dành nhiều nhất cho các phần “chiêu” nói trên. Những tiểu kết cho những phân đoạn ấy thật tài tình, gây được sự truyền cảm mạnh cho người đọc, người nghe. Với bất cứ loại cô hồn nào, Nguyễn Du cũng dành cho một niềm thương xót. Chẳng hạn, với cô hồn chết sông chết biển : Gặp cơn giông tố giữa dòng

Đem thân chôn giấp vào lòng kinh nghê !
với quân sĩ chết trận vô danh:

Lập lòe ngọn lửa ma trơi

Tiếng o
an văng vẳng tối trời càng thương !

với hồn những gái lỡ làng:

Đau đớn thay phận đàn bà

Kiếp sinh ra thế, biết là tại đâu ?!

hoặc với hồn những người hành khất:

Thương thay cũng một kiếp người

Sống nhờ hành sứ, chết vùi đường quan !

Hồn nào cũng được tác giả thương, kể cả với kẻ lúc còn sống đã gây nên cảnh “thịt nát máu rơi” cho bao người khác. Tác giả đã sử dụng theo đức khoan dung, giải chứ không nên kết, “bất niệm cựu ác” của người xưa dành cho kẻ đã khuất : Ngàn cây nội cỏ rầu rầu

Nào đâu điếu tế, nào đâu chưng thường !

Đến bây giờ vẫn chưa có văn liệu nào cho biết Nguyễn Du đã viết CHTLCS vào khoảng năm nào, trước, sau hay cùng thời hạn với Truyện Kiều? Tương truyền rằng lúc bấy giờ (?), khắp vùng rộng lớn nơi Nguyễn Du ở có xảy ra một trận dịch khủng khiếp (đại loại như đậu mùa, thổ tả, dịch hạch) làm chết rất nhiều người. Nguyễn Du đi dự các lễ cầu siêu cho những người đã chết vì nạn dịch nhưng không nghe có bài chiêu hồn nào, bèn nảy ra ý định phải viết một bài. Thời gian này vào dịp “Tiết tháng Bảy, mưa dầm sụt sùi” có ngày “Xá tội vong nhân”, tiền bối bèn viết luôn bài chiêu hồn cho “Thập loại chúng sinh”. Mở đầu bài là cảnh sơ Thu ảm đạm, thê lương: Tiết tháng Bảy, mưa dầm sụt sùi

Toát hơi mây, lạnh buốt xương khô
Não người thay buổi chiều Thu

Hoa lau nhuốm bạc, lá ngô rụng vàng


Lòng nào lòng chẳng thiết tha

Cõi dương còn thế, nữa là cõi âm!

Lâu nay, bài CHTLCS có được in lại : việc làm này rất tốt để giữ cho những viên ngọc quý trong kho tàng văn hóa dân tộc không bị may một hay thất truyền. Có điều là những bản in lại ấy đã được hiệu chính, hiệu đính. Đến nay bản chính của CHTLCS vẫn chưa tìm thấy, những bản in lại vẫn dựa vào các lần in trước, mà các bản in trước cũng không được in theo bản thảo gốc. Đã không có bản chính thì lấy cơ sở nào để sửa lại cho đúng (hiệu chính) hoặc đính chính cho khỏi sai với nguyên tác (hiệu đính)?

Dù sao điều đáng mừng và trân trọng là nhờ một số vị đã có công đứng ra qua việc in lại CHTLCS qua từng thời kỳ để tác phẩm giá trị này được lưu hành mãi mãi.

Nguyễn Du

Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh

Tiết tháng bảy mưa dầm sùi sụt,
Toát hơi may lạnh buốt xương khô.
Não ngườI thay buổi chiều thu,
Ngàn lau nhuốm bạc lá ngô rụng vàng.
Đường bạch dương bóng chiều man mác,
Dịp đường lê lác đác mưa sa.
Lòng nào lòng chẳng thiết tha,
Cõi dương còn thế nữa là cõi âm.
Trong trường dạ tối tăm trời đất,
Có khôn thiêng phảng phất u minh.
Thương thay thập loại chúng sinh,
Hồn đơn phách chiếc lênh đênh quê người.
Hương lửa đã không nơi nương tựa,
Hồn mồ côi lần lữa bấy niên.
Còn chi ai khá ai hèn,
Còn chi mà nói ai hèn ai ngu.
Tiết đầu thu lập đàn giải thoát,
Nước tĩnh đàn sái hạt dương chi.
Muôn nhờ đức Phật từ bi,
Giải oan cứu khổ độ về tây phương.

Cũng có kẻ tính đường kiêu hãnh,
Chí những lăm cất gánh non sông.
Nói chi những buổi tranh hùng,
Tưởng khi thế khuất vận cùng mà đau.
Bỗng phút đâu mưa sa ngói lở,
Khôn đem mình làm đứa thất phu.
Giàu sang càng nặng oán thù,
Máu tươi lai láng xương khô rụng rời.

Đoàn vô tự lạc loài nheo nhóc,
Quỷ không đầu đứng khóc đêm mưa.
Cho hay thành bại là cơ,
Mà cô hồn biết bao giờ cho tan.

Cũng có kẻ màn lan trướng huệ,
Những cậy mình cung quế Hằng Nga.
Một phen thay đổi sơn hà,
Mảnh thân chiếc lá biết là về đâu?
Trên lầu cao dưới dòng nườc chảy,
Phận đã đành trâm gãy bìng rơi.
Khi sao đông đúc vui cười,
Mà khi nhắm mắt không người nhặt xương.

Đau đớn nhẽ không hương không khói,
Hồn ngẩn ngơ dòng suối rừng sim.
Thương thay chân yếu tay mềm,
Càng năm càng héo một đêm một dài.

Kìa những kẻ mũ cao áo rộng,
Ngọn bút son thác sống ở tay.
Kinh luân găm một túi đầy,
Đã đêm Quản Cát lại ngày Y Chu.
Thịnh mãn lắm, oán thù càng lắm,
Trăm loài ma mồ nấm chung quanh.
Ngàn vàng khôn đổi được mình,
Lầu ca viện hát tan tành còn đâu?
Kẻ thân thích vắng sau vắng trước,
Biết lấy ai bát nước nén nhang?
Cô hồn thất thểu dọc ngang,
Nặng oan khôn nhẽ tìm đường hóa sinh?

Kìa những kẻ bài binh bố trận,
Đổi mình vào cướp ấn nguyên nhung.
Gió mưa sấm sét đùng đùng,
Phơi thây trăm họ nên công một người.
Khi thất thế tên rơi đạn lạc,
Bãi sa trường thịt nát máu rơi.
Mênh mông góc bể chân trời,
Nắm xương vô chủ biết rơi chốn nào?
Trời thăm thẳm mưa gào gió thét,
Khí âm huyền mờ mịt trước sau.
Ngàn
mây nội cỏ rầu rầu,
Nào đâu điếu tế, nào đâu chưng thường?

Cũng có kẻ tính đường trí phú,
Mình làm mình nhịn ngủ kém ăn.
Ruột rà không kẻ chí thân,
Dẫu làm nên để dành phần cho ai?
Khi nằm xuống không người nhắn nhủ,
Của phù vân dẫu có như không.
Sống thời tiền chảy bạc ròng,
Thác không đem được một đồng nào đi.
Khóc ma mướn, thương gì hàng xóm,
Hòm gỗ đa bó đóm đưa đêm.
Ngẩn ngơ trong quãng đồng chiêm,
Nén hương giọt nước biết tìm vào đâu?

Cũng có kẻ rắp cầu chữ quý,
Dẫn mình vào thành thị lân la.
Mấy thu lìa cửa lìa nhà,
Văn chương đã chắc đâu mà trí thân.
Dọc hàng quán gặp tuần mưa nắng,
Vợ con nào nuôi nấng khem kiêng.
Vội vàng liệm sấp chôn nghiêng,
Anh em thiên hạ láng giềng người dưng.
Bóng phần tử xa chừng hương khúc,
Bãi tha ma kẻ dọc người ngang.
Cô hồn nhờ gửi tha phương,
Gió trăng hiu hắt lửa huơng lạnh lùng.

Cũng có kẻ vào sông ra bể,
Cánh buồm mây chạy xế gió đông.
Gặp cơn giông tố giữa dòng,
Đem thân chôn rấp vào lòng kình nghê.

Cũng có kẻ đi về buôn bán,
Đòn gánh tre chín dạn hai vai.
Gặp cơn mưa nắng giữa trời,
Hồn đường phách sá lạc loài nơi nao?

Cũng có kẻ mắc vào khóa lính,
Bỏ cửa nhà gồng gánh việc quan.
Nước khe cơm vắt gian nan,
Dãi dầu nghìn dặm lầm than một đời.
Buổi chiến trận mạng người như rác,
Phận đã đành đạn lạc tên rơi.
Lập lòe ngọn lửa ma trơi,
Tiếng oan văng vẳng tối trời càng thương!

Cũng có kẻ lỡ làng một kiếp,
Liều tuổi xanh buôn nguyệt bán hoa.
Ngẩn ngơ khi trở về già,
Ai chồng con tá biết là cậy ai?
Sống đã chịu một đời phiền não.
Thác lại nhờ hớp cháo lá đa.
Đau đớn thay phận đàn bà,
Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu?

Cũng có kẻ nằm cầu gối đất,
Dõi tháng ngày hành khất ngược xuôi.
Thương thay cũng một kiếp người,
Sống nhờ hàng xứ chết vùi đường quan.

Cũng có kẻ mắc oan tù rạc,
Gửi mình vào chiếu rách một manh.
Nắm xương chôn rấp góc thành,
Kiếp nào cỡi được oan tình ấy đi?

Kìa những kẻ tiểu nhi tấm bé,
Lỗi giờ sinh lìa mẹ lìa cha.
Lấy ai bồng bế xót xa,
U ơ tiếng khóc thiết tha nỗi lòng.

Kìa những kẻ chìm sông lạc suối,
Cũng có người sẩy cối sa cây.
Có người leo giếng đứt dây,
Người trôi nước lũ kẻ lây lửa thành.
Người thì mắc sơn tinh thủy quái,
Người thì sa nanh sói ngà voi.
Có người hay đẻ không nuôi,
Có người sa sẩy có người khốn thương.
Gặp phải lúc đi đường lỡ bước,
Cầu Nại Hà kẻ trước người sau.
Mỗi người một nghiệp khác nhau,
Hồn xiêu phách lạc biết đâu bây giờ?

Hoặc là ẩn ngang bờ dọc bụi,
Hoặc là nương ngọn suối chân mây.
Hoặc là điếm cỏ bóng cây,
Hoặc là quán nọ cầu này bơ vơ.
Hoặc là nương thần từ Phật tự,
Hoặc là nhờ đầu chợ cuối sông.
Hoặc là trong quãng đồng không,
Hoặc nơi gò đống hoặc vùng lau tre.

Sống đã chịu một bề thảm thiết,
Ruột héo khô dạ rét căm căm.
Dãi dầu trong mấy mươi năm,
Thở than dưới đất ăn nằm trên sương.
Nghe gà gáy tìm đường lánh ẩn,
Tắt mặt trời lẩn thẩn tìm ra.
Lôi thôi bồng trẻ dắt già,
Có khôn thiêng nhẽ lại mà nghe kinh.
Nhờ phép Phật siêu sinh tịnh độ,
Phóng hào quang cứu khổ độ u.
Rắp hòa tứ hải quần chu,
Não phiền trút sạch oán thù rửa không.
Nhờ đức Phật thần thông quảng đại,
Chuyển pháp luân tam giới thập phương.
Nhơn nhơn Tiêu Diện đại vương,
Linh kỳ một lá dẫn đường chúng sinh.
Nhờ phép Phật uy linh dũng mãnh,
Trong giấc mê khua tỉnh chiêm bao.
Mười loài là những loài nào?
Gái trai già trẻ đều vào nghe kinh.
Kiếp phù sinh như hình như ảnh,
Có chữ rằng:”Vạn cảnh giai không”
Ai ơi lấy Phật làm lòng,
Tự nhiên siêu thoát khỏi trong luân hồi.
Đàn chẩn tế vâng lời Phật giáo,
Của có khi bát cháo nén nhang.
Gọi là manh áo thoi vàng,
Giúp cho làm của ăn đường thăng thiên.
Ai đến đây dưới trên ngồi lại,
Của làm duyên chớ ngại bao nhiêu.
Phép thiên biến ít thành nhiều,
Trên nhờ Tôn Giả chia đều chúng sanh.
Phật hữu tình từ bi phổ độ,
Chớ ngại rằng có có không không.
Nam mô chư Phật, Pháp, Tăng,
Độ cho nhất thiết siêu thăng thượng đài.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: