THU PHAP

Thư pháp Á Đông

Thư pháp là nghệ thuật viết chữ đẹp có nguồn gốc từ Trung Quốc (Đây là dòng thư pháp được phát triển sớm nhất, mạnh nhất và có ảnh hưởng sâu sắc đến các dòng thư pháp của các ngôn ngữ khác trong vùng Đông Á). Người ta dùng bút lông, chấm mực tàu, viết chữ Hán trên các loại giấy tốt hay vải lụa, theo những phong cách khác nhau. Trong nghệ thuật thư pháp Á Đông có 5 phong cách viết là Chân (hay còn gọi là Khải), Triện, Lệ, Hành và Thảo với những quy luật đặc trưng riêng về đường nét, cách thức thể hiện.

Người Trung Quốc cho rằng Lý Tư, thừa tướng của triều đình nhà Tần, là người khởi đầu cho nghệ thuật thư pháp vì ông là người được giao viêc thực hiện cải cách và thống nhất văn tự sau khi Tần Thuỷ Hoàng thôn tính các nước nhỏ khác đưa Trung Quốc trở thành một quốc gia thống nhất. Trải qua các triều đại sau đó, sử sách đều có ghi nhận về sự xuất hiện của những thư pháp gia (người viết chữ đẹp) nổi tiếng, như Vương Hy Chi (đời Đông Tấn) hay Tề Bạch Thạch (đời nhà Thanh).

Tiêu chuẩn để đánh giá một tác phẩm thư pháp thường bao gồm nhiều yếu tố rất khắt khe như điểm hoạch (đường nét), kết thể (bố cục), thần vận (cái hồn của tác phẩm)…

Một bức thư pháp phải hội tụ đủ 3 tiêu chí:

– Mỹ thuật (cái đẹp trong đường nét và bố cục một bức thư pháp…)

– Kỹ thuật (cách thức viết hình thành từ sự đào luyện và phong cách người viết chữ…)

– Tư tưởng (phản ánh tư tưởng của người viết chữ và người chơi chữ…)

Hội đủ các yếu tố trên mới hình thành lên một tác phẩm thư pháp. Đây là sự phân tách mang tính chất tương đối, vì chẳng hạn mặt mỹ thuật có nguồn gốc sâu xa từ mặt kỹ thuật; nếu người thủ bút không được rèn luyện về mặt kỹ thuật thì khó có thể đạt được tiêu chí mỹ thuật!… Thư pháp trọng ở cái “thần”, cái “hồn”; ở đây cái thần và cái hồn thể hiện rõ nhất trên bình diện tiêu chí kỹ thuật (kết tinh từ tưởng siêu thoát và ý thức về mỹ thuật).

Thư pháp Trung Hoa

Tại Trung Quốc và các nước chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc, như Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam, các tác phẩm thư pháp thường được thể hiện bằng chữ Hán và sử dụng bút lông, mực tàu. Người Trung Hoa đã đưa nghệ thuật viết chữ lên thành một môn nghệ thuật cao quý có tính chất phô diễn khí phách tiết tháo của con người. Thư pháp tại Nhật Bản gọi là thư đạo, còn tại Hàn Quốc gọi là thư nghệ.

Thư pháp Á Đông vừa là một nghệ thuật độc lập, đồng thời là một thành phần trong bố cục của hội hoạ theo phong cách cổ Trung Hoa. Nhiều hoạ gia, như Tô Đông Pha, Mễ Phất đời Tống; Tề Bạch Thạch thời hiện đại, nổi tiếng cả về họa lẫn về thư pháp.

Tại Triều Tiên, Nhật Bản, thư pháp cũng được đề cao. Trong các ngôi nhà cổ, người Nhật Bản thường dành một phòng cho nghi thức “trà đạo”, trên vách có một ngăn riêng để treo một bức thư họa.

Ở Việt Nam, Cao Bá Quát, Nguyễn Siêu, Nguyễn Khuyến đã nổi tiếng về thư pháp, sinh thời được nhiều người đến xin chữ về treo trong nhà. Ngày nay, thư pháp chữ Việt theo phong cách bút lông-mực tàu cũng đang dần trở nên được nhiều người quan tâm.

Thư pháp Việt Nam

Ở Việt Nam thuở xưa, vào mỗi dịp Xuân về, người dân hay đến nhà những « Thầy Ðồ » hay những người « hay chữ » để xin chữ về treo như một bức tranh, vừa là món đồ trang trí nhưng cũng vừa là món ăn tinh thần. Thầy đồ hay người hay chữ cho chữ bằng cách viết một hay nhiều chữ trên một tờ giấy lớn, với nội dung mang tính cách chúc tụng hay giáo dục, nét chữ thường được khen là đẹp như rồng bay phượng múa. Lối viết như vậy được gọi là Thư Pháp. Thư Pháp là nghệ thuật viết chữ (Hán) bằng bút lông.

Thư pháp là một môn nghệ thuật phát xuất từ Trung Hoa và đã được các nước Nhật, Triều Tiên, Việt Nam tiếp nhận.

Ðối với phương Tây, thư pháp được thực hiện bằng nhiều phương tiện : bút sắt, cọ, thước, compa, êke…Con chữ được nắn nót theo chuẩn mực và tỷ lệ. Ðó là cái đẹp của các con chữ theo thị giác người sử dụng hệ chữ La Tinh.

Ðối với người phương Ðông, nói đến môn Thư pháp, người ta thường nghĩ đến cách viết chữ Hán với phong cách đặc biệt… Với cây bút lông, mực và giấy người Trung Hoa đã đưa nghệ thuật viết chữ vươn lên đỉnh cao với lý thuyết phong phú, mang tính triết học, thiền học.

Theo các bậc khoa giáp thời xưa, việc chọn một câu văn một bài thơ để viết lên trang giấy là việc cần hết sức cẩn trọng. Vì ngoài việc thể hiện nét bút tài hoa, năng khiếu viết chữ, nội dung một bức thư pháp còn cho thấy tư tưởng, kiến thức, tâm hồn của người viết. Khi cầm bút, ngoài thể hiện những đường nét rồng bay phượng múa, các thư pháp gia còn phải “nhiếp tâm” với những gì mình sắp sửa viết ra.

Mới nhìn qua, chúng ta có thể nghĩ là bộ môn nầy khá dễ, muốn viết sao cũng được, miễn cho đẹp thì thôi ! Thật ra môn Thư pháp cũng có nhiều qui tắc và chuẩn mực nhiều khi là triết lý, tư tưởng…

***

NGÀY XUÂN VÀ THÚ CHƠI THƯ PHÁP
(nhatnhitam)

Thư pháp là một thú chơi tao nhã. Thư pháp luôn hướng tới cái đẹp, cái Chân – Thiện – Mỹ. Chơi Thư pháp thể hiên sự phong phú của tâm hồn trong cuộc sống. Ngoài việc hướng tới cái đẹp, thư pháp còn mang một ý nghĩa tư tưởng sâu sắc và bên cạnh đó là mặt tâm linh với ý nghĩa mang lại những điều may mắn trong cuộc sống.

Ngày xuân hoà cùng không khí tưng bừng của đất trời, tục xin và cho chữ đã từ lâu trở thành một nét đẹp văn hoá của người dân vùng Á Đông nói chung và của dân tộc
Việt Nam nói riêng.

Mùa xuân là khởi nguồn của vạn vật; người ta quan niệm rằng bất cứ cho hay được cho hoặc nhận được thứ gì vào thời điểm này đều rất may mắn. Thư pháp tự ngàn xưa được xem như thứ quý giá (nhất chữ, nhì tranh, tam sành, tứ sứ), liên quan đến việc học hành (được coi là “quý” vì kẻ sỹ (người có học, có chữ nghĩa) được xếp hàng đầu: sỹ-nông-công-thương). Hơn nữa Thư pháp liên quan đến việc xử thể theo cách nhân văn, biểu hiện của hoà bình và giải quyết vấn đề dựa trên nguyên tắc hoà hảo – là những điều “cát tường”; trái ngược hẳn với chiến tranh và giải quyết vấn đề một cách cứng nhắc (“bất tường”). Thánh nhân coi trọng hoà bình và chiến tranh là biện pháp cuối cùng. Vì vậy mà Thư pháp (văn – hoà bình – cát tường) được coi trọng hơn những gì liên quan đến binh đao/ việc binh đao (võ – chiến tranh – bất tường).

Xin chữ và cho chữ ngoài việc mong cầu những điều may mắn, tốt lành còn thể hiện mong muốn thành đạt trong cuộc sống, vinh danh cho gia đình, cho dòng họ và cho xã hội.

Ngày xuân ai cũng muốn xin cho mình và gia đình một chữ. Người chơi chữ thường xin những chữ mình tâm niệm (đức, tâm, phúc, nhẫn, tín, học, hiếu, nghĩa, nhân, đạo cao đức trọng, tôn sư trọng đạo, đức tải vật,…) hoặc những điều mình mong muốn (phú, quý, thọ, khang, ninh, an, vinh, lộc, tài, duyên, tình, hoà, hỷ, bình an, thành công, hạnh phúc, vinh hoa, phú quý,…). Có khi xin một chữ, có khi xin nhiều chữ, có khi xin chữ để thờ, có khi xin chữ để chơi, để trang trí, có khi lại để chúc tụng nhau (vạn sự như ý, mỹ ý diên niên, phúc như đông hải, thọ tỷ nam sơn, phú quý mãn đình, mãn đình hoà khí, xuân phong đắc ý, mã đáo thành công, đăng khoa cập đệ, lý khiêu long môn,…) (người TQ thường hay treo chữ vào năm mới thể hiện những điều mình mong muốn, chính vì vậy khi đến nhà nhau chỉ cần đọc chữ đó là đã thay cho một lời chúc tốt đẹp nhất!)

==
==
==

Ở Việt Nam, từ khoảng 30 năm gần đây, Thư pháp Việt ngữ được hình thành. Bắt đầu là nhà thơ Đông Hồ viết thư pháp bằng bút sắt. Sau này có nhà thư pháp Nhất Linh viết một số bức in trên tạp chí nhưng chưa thành phong trào. Mãi đến sau này, nhà sư Minh Đức Triều Tâm Ảnh khơi mào cho phong trào viết thư pháp Quốc ngữ bằng bút lông. Câu lạc bộ Thư pháp ban đầu chỉ có nhà thư pháp Nguyễn Đình và nhà sư Minh Đức Triều Tâm Ảnh chơi thư pháp Quốc ngữ. Đến nay, thư pháp chữ Việt đã được nhiều người quan tâm. Một trong những tác phẩm thư pháp nổi bật nhất là cuốn thư pháp Truyện Kiều của Nguyễn Đình, tác phẩm này được thực hiện nhân dịp Festival Huế 2002.

Trong Thư pháp Việt ngữ hiện nay có 5 kiểu chữ chính:

  • Chữ Chân Phương (còn gọi là Chân Tự): là cách viết rõ ràng dễ đọc, rất giống chữ thường.
  • Chữ Cách Điệu (còn gọi là Biến Tự): là cách viết biến đổi từ chữ Chân Phương, nhưng các chữ cái hơi được biến dạng một chút để tạo lối viết riêng của từng người.
  • Chữ Cá Biệt (còn gọi là Cuồng Thảo): là lối viết mà người phóng bút “nhiếp tâm” giữa tư tưởng và quản bút. Lối viết này thể hiện cá tính của người viết. Nhìn vào kiểu chữ này, người xem dễ nhận ra tác giả mà không cần phải xem chữ ký. Kiểu chữ này thường được viết liền mạch trong một nét nên khó đọc.
  • Chữ Mô Phỏng là lối viết dựa theo kiểu chữ của nước ngoài. Chẳng hạn có người viết chữ Việt nhưng nhìn qua trông ngỡ chữ Tàu, hay chữ Ả Rập, chữ Miên.
  • Chữ Mộc Bản là kiểu chữ giống như chữ khắc trên mộc hoặc như kiểu thợ sắp chữ của nhà in mà khi viết thì theo một phương pháp đảo lộn, khi xem phải dùng gương phản chiếu. Khi nhìn qua, chữ kiểu này trông giống dạng Hán-Nôm, nhưng thực ra lại là chữ Việt viết ngược.

Ngoài ra thư pháp còn có thể trở thành thư họa. Đó là khi trong một số tranh thư pháp còn có hình ảnh minh họa, trong đó phần tranh có thể chiếm khoảng không gian lớn hơn phần chữ. Hoặc khi nhà thư pháp biến chữ thành tranh, tranh là hình ảnh của chữ.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: