THO TINH TRUNG HOA – PHAN III

The image “https://i1.wp.com/lyxxd.net/UploadFiles/2005731153015585.gif” cannot be displayed, because it contains errors.

Thích nhất hai câu:

“Thùy gia kim dạ biên chu tử,
Hà xứ tương tư minh nguyệt lâu?”

***

Đêm nay ai mảng buông thuyền đó,
Ai ở lầu trăng nhớ chốn nào?

Đêm nay ai đó, ai đâu?
Chiếc thuyền để nhớ trên lầu trăng soi.

Thuyền ai đêm vắng về đâu,
Nhớ ai trăng rọi mái lầu tương tư.

Thuyền ai mê mải đêm thâu,
Lên lầu trăng sáng nhớ nhau chốn nào?

Thuyền ai mê mải đêm thâu,
Nhớ nhau trăng sáng lên lầu tương tư.

Thuyền ai mê mải đêm thâu,
Lầu trăng ai đó nhớ ai chốn nào?

Lãng mạn đến thế là cùng. Trăng có khi chỉ là cái cớ để con người ta nhớ nhau thôi. Chứ đâu cứ phải đến khi có trăng sáng mới nhớ nhau?!!! 🙂

***

春江花月夜

张若虚

  春江潮水连海平,海上明月共潮生。
  滟滟随波千万里,何处春江无月明。
  江流宛转绕芳甸,月照花林皆似霰。
  空里流霜不觉飞,汀上白沙看不见。
  江天一色无纤尘,皎皎空中孤月轮。
  江畔何人初见月,江月何年初照人。
  人生代代无穷已,江月年年只相似。
  不知江月待何人,但见长江送流水。
  白云一片去悠悠,青枫浦上不胜愁。
  谁家今夜扁舟子,何处相思明月楼。
  可怜楼上月裴回,应照离人妆镜台。
  玉户帘中卷不去,捣衣砧上拂还来。
  此时相望不相闻,愿逐月华流照君。
  鸿雁长飞光不度,鱼龙潜跃水成文。
  昨夜闲潭梦落花,可怜春半不还家。
  江水流春去欲尽,江潭落月复西斜。
  斜月沉沉藏海雾,碣石潇湘无限路。
  不知乘月几人归,落月摇情满江树。

Xuân giang hoa nguyệt dạ
Trương Nhược Hư

Xuân giang triều thủy liên hải bình,
Hải thượng minh nguyệt cộng triều sinh.
Diễm diễm tùy ba thiên vạn lý,
Hà xứ xuân giang vô nguyệt minh.

Giang lưu uyển chuyển nhiễu phương điện,
Nguyệt chiếu hoa lâm giai như tiển.
Không lý lưu sương bất giác phi,
Đính thượng bạch sa khan bất kiến.

Giang thiên nhất sắc vô tiêm trần,
Hạo hạo không trung cô nguyệt luân.
Giang bạn hà nhân sơ kiến nguyệt ?
Giang nguyệt hà niên sơ chiếu nhân ?

Nhân sinh đại đại vô cùng dĩ,
Giang nguyệt niên niên vọng tương tự.
Bất tri giang nguyệt chiếu hà nhân,
Đãn kiến trường giang tống lưu thủy.

Bạch vân nhất phiến khứ du du,
Thanh phong giang thượng bất thăng sầu.
Thùy gia kim dạ biên chu tử,
Hà xứ tương tư minh nguyệt lâu?

Khả liên lâu thượng nguyệt bồi hồi,
Ưng chiếu ly nhân trang kính đài.
Ngọc hộ liêm trung quyển bất khứ,
Đảo y châm thượng phất hoàn lai.

Thử thời tương vọng bất tương văn,
Nguyện trục nguyệt hoa lưu chiếu quân.
Hồng nhạn trường phi quang bất độ,
Ngư long tiềm dược thủy thành văn.

Tạc dạ nhàn đàm mộng lạc hoa,
Khả liên xuân bán bất hoàn gia.
Giang thủy lưu xuân khứ dục tận,
Giang đàm lạc nguyệt phục tây tà.

Tà nguyệt trầm trầm tàng hải vụ,
Kiệt Thạch, Tiêu Tương vô hạn lộ.
Bất tri thừa nguyệt kỷ nhân qui,
Lạc nguyệt dao tình mãn giang thụ.

–Dịch Nghĩa–

Thủy triều lên, mặt sông xuân ngang mặt bể,
Trên bể, trăng sáng cùng lên với thủy triều .
Lấp loáng theo sóng trôi muôn ngàn dặm,
Có nơi nào trên sông xuân là không sáng trăng ?

Dòng sông lượn vòng khu cồn hương thơm,
Trăng chiếu rừng hoa ngời như hạt tuyết .
Trên sông sương trôi tưởng như không bay
Bãi sông cát trắng, nhìn chẳng nhận ra

Sông và trời, một màu không mảy bụi,
Ngời sáng trong không, vầng trăng trơ trọi
Người bên sông,ai kẻ đầu tiên thấy trăng ?
Trăng trên sông, năm nào đầu tiên rọi xuống người ?

Người sinh đời đời không bao giờ ngừng
Trăng trên sông năm năm ngắm vẵn y nguyên
Chẳng biết trăng trên sông chiếu sáng những ai
Chỉ thấy sông dài đưa dòng nước chảy

Mây trắng một dải, vẩn vơ bay
Cây phong biếc xanh trên bờ buồn khôn xiết
Người nhà ai đêm nay dong con thuyền nhỏ
Người nơi nao trên lầu trăng sáng đương tương tư ?

Đáng thương cho trên lầu vầng trăng bồi hồi
Phải chiếu sáng đài gương người biệt ly
Rèm nhà ngọc cuốn lên rồi, trăng vẫn không đi
Phiến đá đập áo lau đi rồi, trăng vẫn cứ lại

Giờ đây cùng ngắm trăng mà không cùng nghe tiếng nhau
Nguyện theo ánh đẹp vầng trăng trôi tới chiếu sáng bên người
Chim hồng nhạn bay dài không thể mang trăng đi
Cá rồng lặn nhảy, chỉ khiến làn nước gợn sóng

Đêm qua thanh vắng, mơ thấy hoa rơi,
Đáng thương cho người đã nửa mùa xuân chưa về nhà
Nước sông trôi xuôi, xuân đi sắp hết
Trăng lặn trên bãi sông, trăng xế về tây

Trăng xế chìm dần lẩn trong sương mù mặt bể
Núi Kiệt Thạch, sông Tiêu Tương đường thẳm không cùng
Chẳng biết nhân ánh trăng đã mấy người về
Trăng lặn, rung rinh mối tình, những cây đầy sông

–Bản dịch của Khương Hữu Dụng–
Đêm hoa trăng trên sông xuân

Sông xuân triều dậy mặt biển bằng,
Trên biển trăng cùng triều nước dâng.
Dờn dợn vời theo muôn dặm sóng,
Sông xuân đâu chẳng sáng ngời trăng.

Quanh co sông lượn cồn hương chảy,
Trăng chiếu vườn hoa như tuyết rải.
Tầng không sương tỏa tưởng không bay,
Cát trắng bên doi nhìn chẳng thấy.

Trong suốt trời sông suốt một màu,
Trên sông vằng vặc một trăng cao.
Ai người đầu đã trông trăng ấy ?
Trăng ấy soi người tự thuở nao ?

Người cứ đời đời sinh nở mãi,
Trăng đã năm năm sông nước giãi.
Soi ai nào biết được lòng trăng,
Chỉ thấy sông dài đưa nước chảy,

Mây bạc lưng chừng trôi đến đâu,
Cành phong xanh bến biết bao sầu.
Đêm nay ai mảng buông thuyền đó,
Ai ở lầu trăng nhớ chốn nào ?

Trăng lầu quanh quẩn đáng thương ôi !
Soi mãi đài gương kẻ lẻ đôi.
Cửa ngọc cuốn rèm xua vẫn ở ;
Hòn châm đập áo xóa liền soi.

Chừ đây cùng ngóng , bẵng tăm hơi ;
Mong quyến theo trăng đến rọi người.
Bay mỏi, nhạn khôn ma
ng ánh được,
Vẫy ngầm, cá chỉ vẫy tăm thôi.

Đêm qua thanh vắng mộng hoa rơi,
Nhà chửa về, xuân quá nửa rồi !
Nước cuốn xuân đi trôi sắp hết,
Vòm sông trăng lại xế sang đoài.

Trăng khuất mù khơi chìm chậm chậm,
Dòng Tương non Kiệt ngàn muôn dặm.
Nương trăng mấy kẻ nhớ về theo,
Trăng lặn xao tình cây nước gợn.

–Bản dịch của Tản Đà–

Đêm trăng hoa trên sông xuân

Sông xuân sáng nước liền ngang bể,
Vầng trăng trong mặt bể lên cao.
Ánh trăng theo sóng đẹp sao!
Sông xuân muôn dặm chỗ nào không trăng?
Dòng sông chảy quanh rừng hoa ngát,
Trăng soi hoa như tán trập trùng.
Sương bay chẳng biết trong không
Trên soi cát trắng nhìn không thấy gì.
Trời in nước một ly không bụi.
Mảnh trăng trong ròi rọi giữa trời.
Thấy trăng thoạt mới là ai?
Trăng sông thoạt mới soi người năm nao?
Người sinh mãi, kiếp nào cho biết,
Nhìn trăng sông năm hệt không sai.
Trăng sông chẳng biết soi ai,
Dưới trăng chỉ thấy sông dài nước trôi.
Đám mây trắng ngùi ngùi đi mãi,
Rặng phong xanh một dải sông sầu.
Đêm nay ai đó, ai đâu?
Chiếc thuyền để nhớ trên lầu trăng soi.
Trăng thờ thẫn nơi người xa ngóng,
Chốn đài gương tựa bóng thương ai.
Trong rèm cuốn chẳng đi thôi,
Trên bàn đập áo quét rồi lại ngay.
Cùng nghe ngóng lúc nay chẳng thấy,
Muốn theo trăng trôi chảy đến chàng.
Hồng bay, ánh sáng không màng,
Nước sâu cá quẫy chỉ càng vẩn tăm.
Đêm nọ giấc trong đầm hoa rữa,
Ai xa nhà xuân nửa còn chi!
Nước sông trôi mãi xuân đi,
Trăng tà lặn xuống bên kia cánh đầm.
Vầng trăng lặn êm chìm khói bể,
Đường bao xa non kệ sông Tương.
Về trăng mấy kẻ thừa lương,
Trăng chìm lay bóng đầy hàng cây sông.

–Bản dịch của Trần Nhất Lang–

Sông nối biển nước xuân lênh láng
Ngọn triều dâng trăng sáng biển khơi
Nước trôi muôn dặm trăng soi
Sông xuân đâu chẳng sáng ngời ánh trăng.
Sông uốn lượn quanh cồn hương ngát
Trăng in hoa như tuyết trắng phơi
Trên không nào rõ sương trôi
Cát xa chẳng thấy bên doi trắng ngần. (1)
Trời trong vắt sông xuân một sắc
Tấm gương nga vằng vặc trên cao
Ai người thấy được trăng đầu
Trăng kia đã rọi người nào năm xưa?
Người sinh mãi khai hoa chẳng tận
Năm rồi năm trăng vẫn thế hoài
Trăng sông soi sáng cho ai
Trên sông một dải nước trôi theo dòng.
Đám mây trắng bềnh bồng bay mãi
Rặng phong xanh bến gợi mối sầu
Thuyền ai đêm vắng về đâu
Nhớ ai trăng rọi mái lầu tương tư.
Trăng gác kia dường như thương xót
Chiếu đài trang, soi khách phân ly
Rèm châu cuốn cũng không đi
Lau chầy đập áo, trăng về lại ngay.
Mong tin vắng từng giây từng phút
Muốn theo trăng tới sát bên chàng
Nhạn bay không thể đem trăng
Cá rồng lặn nhẩy thấy làn nước thôi
Mơ đầm vắng hoa rơi mấy đóa
Thương nửa xuân người chửa về nhà
Nước trôi xuân lại sắp qua
Trăng sông cũng lặn xế tà về tây.
Trăng chìm lẫn sương dầy mặt biển
Cách núi sông biền biệt xa khơi
Cỡi trăng về được mấy người?
Cây sông trăng lặn khôn nguôi mối tình.

***

The image “https://i2.wp.com/www.llgyw.com/bbs/picData/2006-01/pic/UPff3b688aaed25c29.jpg” cannot be displayed, because it contains errors.

***

Mạn đàm “Xuân giang hoa nguyệt dạ”:

Nhà thơ Trương Nhược Hư (660 – 720) người ở Dương Châu. Ông cùng với Hạ Tri Chương, Trương Húc, Bao Dung được gọi là “Ngô trung tứ sĩ” vì Hạ Tri Chương tự xưng là Tứ Linh cuồng khách, Trương Húc cùng với Lý Bạch, Bùi Uẩn múa kiếm làm thơ và tự xưng là tam tuyệt, nên bốn nhà thơ nầy quy tụ lại với danh xưng để ngạo với đời. Phong cách thơ ông trong sáng hoa lệ, giàu chất trữ tình, Ông có vị trí quan trọng giai đọan thi ca thời Sơ Đường.
Thơ ông thất lạc gần hết. “Toàn Đường thi” chỉ ghi lại được hai bài thơ của ông là “Đại Đáp Khuê Mộng Hoàn” và “Xuân Giang Hoa Nguyệt Dạ”.
Bài “Xuân Giang Hoa Nguyệt Dạ” này cũng đủ để Trương Nhược Hư trở tành bất tử. Tại Nhật Bản hai bài thơ Đường nầy được yêu thích nhất có lẽ nó mang hình ảnh thấp thoáng đâu đó trên xứ sở Phù Tang.

Bài thơ phác họa hình ảnh đợi con nước lên người du tử ra đi. Khi chàng vừa ra đi thì lập tức lòng người phụ nữ bùng lên nỗi nhớ. Chàng và nàng rất đổi nhớ nhau.
Ý thơ trong sáng, lời thơ hoa lệ. Kết luận bất ngờ, dễ thương.

Chú thích :

* Chày đập áo [Đảo y châm ], là dụng cụ để đập áo khi giặt.
* Ngư long là con cá lớn sống trong nước, cá kình,cụ Nguyễn Trãi thì cho đó là một giống thú rất lớn sống trong nước.
* Lì là giữ yên vị trí ,vị thế cũ.
* Kiệt Thạch, là núi Kiệt thạch ở vùng biên giới phía bắc ở huyện Xương Lê, Tiêu Tương là hai dòng sông Tiêu và Tương hợp lưu ở Hà Nam và chảy vào Động Đình Hồ.

* Xuân Giang Hoa Nguyệt Dạ là Đêm hoa trăng trên sông xuân, tuy nhiên đây cũng là tên của một khúc ngâm nổi tiếng của Trần Hậu Chủ.

Bài thơ tả tình và cảnh một cách rất nghệ thuật, mông lung giữa làn sương khói u hoài và ánh trăng soi huyền diệu trên bến nước dập dềnh mênh mông… làm người đọc phải bần thần suy tư: đó là bài thơ “Đêm Hoa Trăng Trên Sông Xuân” của Trương Nhược Hư. Nhà thơ đã sử dụng ngôn ngữ thẩm mỹ một cách tài tình, những hình ảnh âm thanh sống động có sức gợi cảm ngân vang, cùng với sự sáng tạo, tưởng tượng liên kết lạ lùng, gây nên những tác động mạnh mẽ và sự tiếp thụ phong phú nơi người đọc. Bài thơ đã dẫn dắt người đọc đưa những bước chân hụt hẩng vào một thế giới cảm xúc mênh mang của cụ thể và trừu tượng, của vô hình và hữu hình, của thực chất và mộng ảo…

Xuân giang hoa nguyệt dạ là một bức tuyệt tác tổng hợp cảnh vật, tình cảm, triết lý vào trong một đêm xuân có (trăng) sáng, trên con (sông), bên cạnh một rừng (hoa). Câu chuyện đi từ cảnh xa cho đến gần, cảnh vĩ đại cho dến cảnh đơn thuần (con trăng), cảnh chuyển qua tình, từ triết lý nhân sinh đi tới nội tâm của con người rồi của chính mình, một lúc nào đó cảnh và người hòa hợp với nhau, không còn phân biệt.

Lồng trong câu chuyện, mặt trăng là vai c
hính, từ lúc mới lên cùng với thủy triều, cho đến lúc lừng lững giữa trời không, cho đến lúc lặng xuống, cho ta hình ảnh rõ ràng của một du khách (trên sông) qua một đêm không ngủ, lặng nhìn trăng sáng, thưởng thức trọn vẹn một Xuân giang hoa nguyệt dạ.

Nét bút tả cảnh tả tình của thi nhân thật là huyền diệu. Còn gì huy hoàng thơ mộng hơn cho bằng lặng lẻ nhìn vũ trụ từ từ hiện ra trước mắt mình qua hìn ảnh của một mặt hồ mênh mông, và ánh trăng vằng vặc. Còn gì thẫn thờ hơn cái ngẫn ngơ của linh hồn trước một thiên nhiên vô cùng, bí mật, còn gì cô đơn hơn con thuyền lẽ loi trên mặt sông, không biết về đâu. Còn gì thương nhớ vô vàn hơn nổi tương tư của hai người xa cách chỉ còn biết nhờ trăng gởi cho nhau nổi thân tình tới người yêu.

Còn gì bàng hoàng hơn giây phút cuối cùng của câu chuyện, có ai như mình không nhĩ, ngồi đây với bao nhiêu nỗi niềm, muốn bao trùm cả vạn vật, nhớ đến câu: “Tịch dương vô hạn hảo, Chỉ thị cận hoàng hôn” mà bàng hoàng ngẫn ngơ…

Âm luật tiết tấu trong bài thơ cũng rất đặc sắc, diễn tả tâm trạng của thi nhân trong đêm đó, không kịch liệt, không ai oán, không cấp xúc, mà là mộng ảo, ôn nhu, hòa hài, tình cảm thâm trầm mà nhiệt liệt, tự nhiên, bình hòa như máu chạy trong tim, nhịp theo quy luật, tiết tấu. Cả bài có 36 câu, 4 câu lại đổi vần, bình trắc đổi nhau vận dụng, như một bài nhạc đi theo tình cảm trong thơ.

Đời vua Hậu chủ nhà Trần ở Nam triều cùng với các nữ học sĩ và các triều thần làm thơ, rồi nhặt những bài thơ đóng thành tập gọi là “Xuân giang hoa nguyệt dạ”. Tác giả lấy cái đề ấy làm bài thơ này, là một bài thơ cổ rất haỵ

“Xuân giang hoa nguyệt dạ” là bài thơ trữ tình nổi tiếng trong lịch sử văn học Trung Quốc. Nhà nghiên cứu văn học đời Thanh Vương Khải Vận khen bài thơ này là “chỉ một thiên tuỵêt diệu, đủ xứng đáng là đại gia” (cô thiên hoành tuyệt, cánh vi đại gia); nhà thơ hiện đại Văn Nhất Đa thì ca ngợi rằng bài thơ này là “Thơ trong thơ, đỉnh núi trên các đỉnh núi” (Thi trung đích thi, đỉnh phong thượng đích đỉnh phong). Theo lời Lưu Kế Tài thì đối với người Nhật Bản hiện đại, hai bài thơ Đường được hâm mộ nhất là “Xuân giang hoa nguyệt dạ” của Trương Nhược Hư và “Trường hận ca” của Bạch Cư Dị.

Bài thơ thể hiện nỗi nhớ của người du tử đối với người khuê phụ. Tựa đề “Xuân giang hoa nguyệt dạ” có nghĩa là “đêm hoa trăng trên sông xuân” nhưng cũng là tên một khúc hát thời Trần Hậu Chủ, do đó tựa đề cũng có thể không cần dịch nghĩa.

***

Image Image Image

***

Ghi chú: Bài thơ này đã được phổ nhạc. Đây là một Cổ Khúc nổi tiếng ở Trung Hoa. Hiện nhatnhitam đang sở hữu một đĩa nhạc về các cổ khúc nổi tiếng của Trung Hoa, trong đó có bài này!!! Nếu ai có nhu cầu nghe thì xin liên hệ với nhatnhitam nhé!!! 🙂

2 Responses to THO TINH TRUNG HOA – PHAN III

  1. nhacjphur says:

    Buc tranh kia co phai ve bai Xuan giang hoa nguyet da khong the? Blogging cham chi nen luc vao cu phai cho loading lau lau la 😉

  2. TAMA卐一卍 says:

    🙂 Hai bức tranh đầu l hai bức hoạ bi “Xun giang hoa nguyệt dạ” ng ạ! Cn ba bức hoạ sau l do ti tập hợp để lm sng tỏ thm thơ thi!… ((

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: