THI��N �������NG CHO HAI NG�����I

April 20, 2007

(太平广记) 披露,月宫居民数以亿计:“木公,亦云东王父,亦云东王公。盖青
阳之元气,百物之先也。冠三维之冠,服九色云霞之服,亦号玉皇君。居于云房之
间,以紫云为盖,青云为城。仙童侍立,玉女散香。真僚仙官,巨亿万计。各有所
职,皆禀其命,而朝奉翼卫。故男女得道者,名籍所隶焉。昔汉初,小儿于道歌
曰:‘着青裙,入天门,揖金母,拜木公。’”:木公即月宫:木在机杸,公为八
在厶,八是绕地盘旋二月。“真僚仙官,巨亿万计”就指月宫居民数以亿计。

“水晶宫殿飘香,群仙方按《霓裳》”图

《清平乐·五月十五夜玩月》之二是:“风高浪快,万里骑蟾背。曾识姮娥真体
态,素面元无粉黛。身游银阙珠宫,俯看积气濛濛。醉里偶搖桂树,人间唤作凉
风”。这首词报告三大天机:

一、地球包在大气圈中:“身游银阙珠宫,俯看积气濛濛”。银阙珠宫即月宫,身
游银阙珠宫即身游月宫。积气濛濛,即指地球大气圈外貌。“俯看积气濛濛”景象
是当代宇航员的专利,刘克庄不是宇航员。而当代宇航员坚信:“俯看积气濛濛”
只能在月表月空思蓝色故乡时看到,在月内根本看不到:月壳那么致密坚硬,怎么
进去啊!即使进入月壳,眼光怎么可能穿透月壳外视呢?

二、月宫是地球风源:“醉里偶搖桂树,人间唤作凉风”。桂树是传说的月宫植
物,指代月宫。桂树被搖动的方向各异,但是,“醉里偶搖桂树,人间唤作凉风”
表示:不管桂树向什么方向搖动,产生的凉风都吹向人间——地球;凉风来自月宫
桂树,等于说各个风向、各级风力的风都来自月宫桂树,月宫是地球的风源。这与
“飄風不终朝”(老子)预告的真相一致:飄風生于空心日月,空心日月是飄風之
源,空心日月从未终止过兴風作浪,十字架从未停止过兴風作浪。风为乂在几,乂
是十,风是十字架“周行而不殆”的符号。風是风,風为凡虫,風为虫在凡间,凡
是月亮“周行而不殆”的符号,風是虫“周行而不殆”的符号,風是“周行而不
殆”之月,“周行而不殆”的空心日月(见《虫在風中,谁能见風中群虫?》)。

桂树代表月宫的原因是:桂为木圭,木在札机木在杸,圭为二土,一土表一月,二
土表二月,代表二个以上的空心日月。圭在厓,厓为圭在厂,圭是绕地盘旋的日
月。圭在邽,邽为圭在阝,圭是“周行而不殆”的日月。可见,月有桂树、吴刚伐
桂、攀宫折桂的传说只能是月人为传月亮真相而下放的传说。而攀宫折桂表示:月
宫知识最高级,真相则是月宫十字架是一切知识的源泉。“醉里偶搖桂树,人间唤
作凉风”告密:风源于月宫十字架,源于空心日月的十字架。

三、月人长生长青长春,花容月貌,国色天香,不用化装:“曾识姮娥真体态,素
面元无粉黛”。姮娥即嫦娥,代表月人。

三大天机中,除了第三天机可从“姮娥即嫦娥偷吃了长生不死药奔月”的神话传说
中想象外,另两大天机没有传说依据。或者说,虽有月中桂树的传说,也很难从桂
树传说中想象出“醉里偶搖桂树,人间唤作凉风”的风源风向。即使把这算为文学
想象力的作品,第一天机则完全是前无古人的新知:月亮在地球大气圈之外的知
识,是现代人才知道的知识;地上看天,日月星辰都在天空中,谁也看不出月亮在
天外——谁也看不出月亮在地球大气圈之外。而历史知识只有积气,还没有濛濛形
容词。


Entry for April 18, 2007

April 18, 2007

天下第一福

中華第一福

在北京恭王府秘雲洞內,珍藏著一塊號稱天下第一福源的福字石碑。每天,來這裏請福的人絡繹不絕,人人都想親手摸一下這天下第一靈驗的福字,好沾一沾福氣。

康熙十二年(西元1679年),孝莊太后六十大壽將至,不料突染沉屙,太醫束手無策。百般無奈之時,康熙查知上古有承帝事請福續壽之說,意思是說真命天子是萬福萬壽之人,可以向天父為自己請福續壽,遂決定為祖母請福,在沐浴齋戒三日之後,一氣呵成寫下了這幅傾注了對祖母摯愛的「福」 字,並在福字頭上加蓋了康熙御筆之寶印璽,取意「鴻運當頭、福星高照,鎮天下所有妖邪」。

康熙一生罕有題字。今天的北京城內,除公文外,經考證的康熙題字只有3個,除了「福」字碑上的那個「福」字外,就是高懸於故宮交泰殿的「無為」二字。「無為」,有兩重極為重要的內涵:其一,告誡君王不必過多干涉臣子作為,行「無為之治」。其二,交泰殿是朝堂與後宮分界之所,此匾亦是警醒後宮到此「無為」,不要干涉朝政。不過,如此重要的匾額也未有加蓋康熙御筆之寶印璽。足可見那玉璽加頂之「福」的珍稀。

孝莊太后自得到了這「福」字後百病全消,十五年後,以75歲高齡得以善終。民間認為這是康熙請福續壽帶來的福緣。事後康熙幾番重提御筆,卻再也寫不出其中的神韻,所以民間盛傳此福為天賜鴻福。

令人稱奇的是,這「福」字有意無意間創造了許多空前的記錄,細品之下,真有佳作天成的味道。首先,御「福」加璽後,成了中國乃至全世界惟一一幅不可倒掛的「福」字。其次,此「福」字形瘦長,諧音「壽長」,民間稱之為「長壽福」。

俗話說:「有福必有壽,有壽必有福,有福沒有壽是為無福可受」。但是,由於「福」、「壽」二字字形差異太大,自古沒有哪個書法家能把「福」「壽」合為一字書寫,但這幅禦寶解決了這個問題。「福」的右半部正好是王羲之蘭亭序中 「壽」字的寫法。故而,這幅字也成了現存歷代墨寶中惟一的將「福」「壽」寫在同一個字裏的「福」字,民間稱之為「福中有壽,福壽雙全」之福。更為珍貴的 是,此「福」與民間稱作「衣祿全、一口田」的「福」字截然不同,其間包括了「多子、多才、多田、多壽、多福」數個漢字,是古往今來獨一無二的「五福」合一 之「福」字。由其中的「田」部尚未封口,因此是鴻福無邊、無邊之福。孝莊太后稱其為福之本源,民間則稱五福之本、萬福之源。

多子、多才、多田、多壽、多福

中華第一福_拆字

我們一般寫的「福」字常被稱為「衣祿全、一口田」。這是因為有人把「示」字邊看成「衣」,於是「福」就可以拆成「衣」、「一」、「口」、「田」,而因為「衣」有福祿的意思,所以就被稱為「衣祿全、一口田」


Thiên Ấn Ký Sự

April 17, 2007

Quảng Ngãi sao mà nóng bức, sao mà ngột ngạt. Và nhất là đi đâu, ở đâu cũng thấy thiêu thiếu điều gì. Trái tim tôi chông chênh, Tâm hồn tôi chông chênh và Nỗi nhớ tôi chông chênh! Những buổi tối đi dạo, đôi lúc tôi lại giật mình vì những cơn gió lạnh. Và rồi tôi cũng hiểu ra cái thiêu thiếu ấy là gì. Là phố núi yên bình bạt ngàn hoa quì dại. Là buổi sáng đầy sương trên những tán thông. Là róc rách suối reo nơi góc rừng hoang vu bí ẩn. Và nhất là đôi mắt Em, nụ cười Em và bím tóc đuôi gà ấy. Để học tôi cố quên đi tất cả để rồi đêm về Ru hồn trong Những giấc mơ tôi!

RU HỒN

Ru hồn
Bằng đôi mắt Em
Bằng mưa
Bằng gió
Bằng trăng cuối mùa

Cành bằng lăng tím đong đưa
Lời ru xa xứ giữa trưa quê người

Ru hồn
Ru cả tiếng cười
Môi Em bồng nắng – Đồng xanh đương thì
Hoang sơ – Thơ dại – Kiêu kỳ
Trăng lên khuyết nửa
Cũng vì
Thương nhau!




– Thế là những gì cần làm, đã làm; những nơi cần đến, đã đến. Linh cảm đã mách bảo mình “Đó là Thiên Ấn” (vì chẳng ai bảo mình Thiên Ấn ở chỗ nào, vả lại cũng ngại hỏi nữa), và chính Bản năng đã thôi thúc mình phải đến đó: Chủ nhật tuần trước (08/04/2007) chỉ định loạng quạng ra đường tí cho đỡ cuồng chân thôi, ai ngờ tự nhiên lại nảy ra ý định trèo lên ngọn núi ấy. Mình nghĩ đó là Thiên Ấn, ai ngờ đến nơi là Thiên Ấn thật. Ai đưa đường đây. Có lẽ chính là Bản năng. Tổ đình Thiên Ấn xưa kia là nơi phát sinh của dòng Thiền Lâm Tế, chắc ngày xưa oách lắm. Phật giáo đã một thời hưng thịnh; còn bây giờ “Phật giáo đang trong thời kỳ mạt pháp”, chỉ dám nghĩ thế thôi!!!. Vì không có ý định trước, nên không dám bước qua cửa chùa, chỉ dám đứng ngoài cổng vái ba vái (vì con người lúc đó chưa có sự chuẩn bị trước, hơn nưa trong lòng cảm thấy không thanh tịnh) rồi tung tăng đi lảng vảng bên ngoài chùa. Song những nơi cần đến đã đến. Đường lên Thiên Ấn thật đẹp, nhưng cảm giác đầu tiên khi đến tới nơi thì không được như ý. Sau khi đảnh lễ chư Phật xong, mình đã đi lang thang, ai ngờ lại đến được chỗ tượng đài Quán Thế Âm Bồ tát, đứng riêng một khu, ngoảnh mặt đứng nhìn sông (Trà Khúc). Đẹp, Đắc địa! là cảm giác của mình khi đứng bên tượng đài này và ngắm nhìn dòng sông. Dòng sông này (có lẽ) đã nuôi lớn người dân xứ Quảng cả về vật chất lẫn tinh thần!!!, nhưng mấy ai biết được điều này!!! Sông đã âm thầm, bao dung như thế đấy: bao dung tất thảy, nuôi lớn tất thảy (cả những đứa con biết đến sông đến núi và cả những đứa con lãng quên sông núi nữa). Cả núi và sông đều đẹp, đều hùng vĩ!!! Tiếp đó đã lạc vào chỗ tháp Cửu trùng đài, song có lẽ nơi cuối cùng đặt chân đến trên Thiên Ấn là ấn tượng hơn cả: Mộ cụ Huỳnh Thúc Kháng. Sáng sủa, thanh cao, phúc khí vô tận,… là cảm giác của mình khi đến thăm mộ cụ. Hạ sơn lòng thấy thoải mái vô cùng. Về nhà rồi cảm thấy sức an định cực kỳ lớn. Phải chăng thần phật đã tiếp sức cho ta (đặc biệt là Quán Thế Âm Bồ tát và cụ Huỳnh)?!!!. Hai điểm cần đến đã đến. Chỉ cần đến một lần là đủ!. Song có lẽ cũng phải một lần nữa lên núi để vào chùa thắp hương. Vì biết đâu, biết đâu đấy… Ngày mai, mùng 1 tháng 3 âm lịch, sau giờ làm việc sẽ lên Thiên Ấn để vào chùa thắp hương đảnh lễ chư Phật.

– Thưa Quý bằng hữu xa gần, mặc dù còn rất nhiều, rất nhiều điều muốn chia sẻ với Quý bằng hữu, nhưng có hội ngộ tất có phân ly,… Có lẽ sau bài viết này tôi xin nói lời chia tay với tất cả các bằng hữu yêu mến vì từ trước tới nay tất cả các bài viết trong blog của tôi không hề mang chút “bản ngã” nào cả, chỉ gồm các bài viết chia sẻ những hiểu biết cùng mọi người cho vui thôi; còn sau bài viết này sẽ chỉ toàn các bài viết đầy tính chất “bản ngã”, cá nhân riêng tư, yêu đương và gia đình (các bài viết tiếp theo sẽ là các bài viết nói về việc chuẩn bị cho đám cưới của tôi),… đại khái là những bài viết mà Quý bằng hữu sẽ không muốn đọc!!! Vì thế, nhân đây, cho tôi được gửi lời cảm ơn tới tất cả quý bạn đã quan tâm, theo dõi, chia sẻ và động viên tôi qua từng bài viết trong blog. Xin cảm ơn! Chào tạm biệt! Chúc Quý bằng hữu xa gần Sức khoẻ, bình an và hạnh phúc!!!

– Xin chào nhau giữa con đường, Mùa xuân phía trước miên trường phía sau. Có duyên phận thì sẽ thành vợ, thành chồng; không duyên phận thì xin… mãi mãi là bạn thân!!!. Quý bằng hữu thân mến, từ nay nếu cần trao đổi gì, xin liên hệ qua email hoặc gọi điện cho tôi nhé!!! Chào thân ái và quyết thắng!!!




CHUẨN BỊ ĐÁM CƯỚI – PHẦN I

April 15, 2007

Image


Văn Tơ Hồng

Duy Nguyệt-Lão xe duyên đúng 13h02’ ngày 25 tháng 12 năm 2007 (tức giờ mùi, ngày 16 tháng 11 năm Đinh hợi) tại thôn Cao Lộng, xã Tân Thịnh, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định, nước Cộng hoà XHCN Việt nam.

Vì việc kết-hôn của Duy Khoản cùng Huyền Ninh, nay hôn-sự đã thành, kính dâng lễ bạc lòng thành lên Đức Tơ-Hồng Nguyệt-Lão Thiên-Tiên. Ngài rất công, rất thẳng, không vị, không thiên, đem kính ngọc xét soi thế-sự, lấy chỉ hồng xe kết nhân duyên, xui nhạn cá mối-manh đưa lại, nên uyên-ương sum-họp phỉ-nguyền, bởi nợ trước duyên sau cùng sinh một hội. Vậy người Cao Lộng (chồng) kẻ Đồng Lư (vợ) kết-duyên bách niên, đuốc hoa xán-lạn hai nhà nhờ ơn Nguyệt-Lão, thước ngọc hợp-thành một cặp bởi đức Hoàng-Thiên, gối phượng chăn loan tưng-bừng đôi lứa, chèo lan lái quế êm-ấm một thuyền, mong sớm ứng điềm lành, mộng hổ, mộng hùng, mộng sà, mộng lộc; được sau nên họ lớn, sinh đào, sinh lý, sinh huệ, sinh liên, nguyện cùng trăm năm giai-lão, ước rằng hai họ mãn-viên, trông ơn đại-đức, tấc dạ vi kiền.

Cẩn cáo

Image


Tế Tơ Hồng

Trong tục lễ Tế Tơ Hồng, tuy nguồn gốc điển tích do người Tàu kể lại, cách thức của người Việt Nam và sự diễn giải của từng địa phương, cũng có đổi khác. Ngày nay, tuy người Việt mình theo đời sống mới đã bỏ hẳn lễ tục này, trong các đám cưới vẫn có người nhắc nhở như một kỷ niệm vui vui thời xưa. Nhất Thanh kể lại như sau: “Khi xưa tế Tơ Hồng ngay lúc sau khi đưa dâu về đến nhà, trước khi yết lễ tổ họ, lễ yết gia tiên và chào mừng ông bà cha mẹ họ hàng, ý rằng khi cô gái bước chân về đến nhà người ta là nên vợ chồng, lương duyên do ông Tơ chấp mối xe lại, điều trước tiên là nghĩ đến công đức của Ông, tế lễ để ông chứng kiến việc hôn phối đã thành, đồng thời tạ ơn Ông. (Có sách nói rằng khi cô dâu chú rể khi làm lễ gia tiên, lễ ông bà cha mẹ và họ hàng bên nhà trai xong mới làm lễ Tế Tơ Hồng).

Lễ cử hành rất đơn giản. Bàn thờ thiết lập trung thiên nếu đẹp trời, bày lư hương và nến hay đèn, tế vật dùng xôi gà trầu rượu. Gọi là “tế” vì có xướng tế và có đọc chúc, nhưng không có đám cưới nào nhờ tư văn và phường nhạc trợ tế.

Cô dâu và chú rể đứng vào hàng ngang trên chiếu trải, trước hương án, theo lời xướng tế lạy bốn lạy rồi quỳ. Cũng theo lời xướng, một chấp sự đọc rót rượu, một chấp sự đọc văn tế, tân Lang và tân Giai Nhân phục xuống lễ tạ, đứng lên vái ba vái, lui ra. Chỉ tế một tuần rượu nghĩa là không trọng thể như tế ba tuần. Văn tế viết vào giấy hồng đọc xong được dầm vào chậu nước để sẵn trước hương án, không như văn tế thần thánh viết vào giấy trắng và đốt đi. Đọc văn tế chỉ cần người tốt giọng, nếu không biết hết chữ trong bài văn tế đã có người chỉ bảo trước. Các cụ túc nho không coi trọng và không bao giờ chịu nhận làm cái việc vào đọc văn tế, nghĩa là trợ tế cho hai đứa còn ít tuổi, ý rằng trong các đám tế chủ tế là nhân vật chính yếu, các người trợ tế đều là hàng dưới.

Văn Tế tơ Hồng mỗi khi, mỗi nơi viết một khác không có bắt buộc phải viết theo một hai bài mẫu mực nào. Ở đất văn vật người ta trổ tài văn tế thì làm những bài văn dài lối biền ngẫu đúng thể văn tế, ở đất ít học “nghe hơi nồi chõ” chép được của người, có khi “chữ tác đáng chữ tộ” đem về cũng viết viết đọc đọc, ông Tơ bà Nguyệt có nghe chăng chỉ trời biết. Đại để viết văn tế Tơ Hồng thì không ngoài cái ý tán tụng công đức tác hợp mối duyên lành xe dây chỉ thắm của Nguyệt Lão, mong được phù hộ độ trì cho cùng nhau ăn đời ở kiếp, sinh năm đẻ bảy vuông tròn.

Vợ chồng là nghĩa tào khang.

Xuống khe bắt ốc lên ngàn hái rau.



BÀI NÀY ĐƯỢC ĐỌC TỪ HỒI CÒN RẤT NHỎ!!!

April 11, 2007

Em vui em mặc áo hồng

Máy reo máy đẩy, mênh mông biển trời

. . . . . . . . .

Nước non ngàn dặm

Nước non ngàn dặm

Ra đi

Cái tình chi…

(Câu ca Nam bình)

Nửa đời tóc ngả màu sương

Nhớ quê, anh lại tìm đường thăm quê

Đường vào như tỉnh như mê

Đường ra phía trước, đường về tuổi xuân

Đã đi muôn dặm xa gần

Nay về Nam cũng bước chân bồi hồi!

Sông Bến Hải bên bồi bên lở

Cầu Hiền Lương bên nhớ bên thương

Cách ngăn mười tám năm trường

Khi mô mới được nối đường vô ra?

Bây giờ cầu lại bắc qua

Ván thơm gỗ mới cho ta gặp mình…

Anh về Quảng Trị… Gio Linh

Trèo lên dốc Miếu, lặng nhìn Quán Ngang

Bời bời cỏ lút đồng hoang

Chim kêu cành cụt, chang chang nắng cồn

Tả tơi mấy ấp khu khu dồn

Mái tôn, rào kẽm, tháp đồn chơ vơ!

Thương em chín đợi mười chờ

Con thuyền nay lại đỏ cờ sang sông

Em vui em mặc áo hồng

Máy reo máy đẩy, mênh mông biển trời

Thuyền về Cửa Việt ra khơi

Thuyền lên Ái Tử, thuyền bơi Đông Hà…

Anh còn lặn lội đường xa

Sông Hương đành nhớ, chưa qua sông Bồ

Phù lai ba bến con đò

Thanh Lương quê ngoại câu hò còn chăng?

Êm dòng Thạch Hãn đêm trăng

Những lo ngược gió Tam Giang nặng chèo!

Xe lên đường 9 treo leo

Hố bom đỏ mắt, trắng đèo bông lau

Cây khô, chết chẳng nghiêng đầu

Nghìn tay than cháy rạch màu trời xanh

Trưa nồng, gà gáy Khe Sanh

Tà C
ơn dứa mật, hoa chanh ngát đồi.

Chợt nghe… từ tuổi hai mươi

Tiếng xiềng Lao Bảo gọi người bạn xưa

Ngỡ ngàng rẽ lối le thưa

Vông đồng mấy cội, xác xơ lá cành

Hoang tàn hầm đá, đồn canh

Bâng khuâng nhớ bóng các anh những ngày!

Nhìn quanh, núi đứng mây bay

Võng anh giải phóng, rừng lay nắng chiều…

Thương nhau, đừng khóc, em yêu

Tự do, phải trả bao nhiêu máu này!

Có qua những bước đi đày

Càng thêm ấm những bàn tay giữa đời.

Sáng hè đẹp lắm, em ơi

Đầu non cỏ lục, mặt trời vừa lên

Da trời xanh ngát, thần tiên

Đỏ au đường lớn mang tên Bác Hồ

Trường Sơn mây núi lô xô

Quân đi, sóng lượn nhấp nhô, bụi hồng…

Ai trông, lên đó mà trông

Cha Ki oanh liệt, Bản Đông anh hùng

Mỹ thua, Nguỵ chạy đường cùng

Xác tăng như xác bọ hung đen bờ

Mấy chàng lính trẻ măng tơ

Nghêu ngao gõ bát hát chờ cơm sôi.

*

Xe lao qua dốc qua đồi

Gió tây giội lửa ồi ồi sau lưng

Bụi bay, bụi đỏ lá rừng

Mịt mù lối kín, cát bưng đường hầm

Nóng nung vạt áo ướt đầm

Thương con bướm trắng quạt ngầm suối khô (1).

Con sông Xê Noọng ai dò

Mà dòng nước mát hẹn hò cùng ta?

Tới đây, tre nứa là nhà

Giò phong lan nở nhành hoa nhuỵ vàng

Trưa nằm đưa võng, thoảng sang

Một làn hương mỏng, mênh mang nghĩa tình.

Lán đêm, ghé tạm trạm binh

Giường cây lót lá cho mình đỡ đau

Nghĩ người, thăm thẳm rừng sâu

Mười năm bom đạn, măng rau, sốt ngàn.

Xê Công, Xê Nọi, Chà Vàn

Mở đường, bao nỗi gian nan với đường!

Trường Sơn, xẻ dọc, rọc ngang.

Xẻng tay mà viết nên trang sử hồng.

Trường Sơn, vượt núi, băng sông

Xe đi trăm ngả, chiến công bốn mùa.

Trường Sơn, đông nắng, tây mưa

Ai chưa đến đó, như chưa hiểu mình.

Vui sao buổi bình minh, gặp cháu

Nhớ ngày nào cháu mới lên ba

Gác canh cho chú trong nhà…

Nay giữa Phi Hà, D trưởng công binh

Trên đường lớn Hồ Chí Minh

Gác ba biên giới… mối tình Đông Dương!

*

Tả Ngâu, trong vắt mắt gương

Xốn xang trông lửa chiến trường, mà cay

Xê Xan, tan nát đạn cày

Trống trơ rừng khộp, khô gầy rừng le

Bằng lăng bạc nắng trưa hè

Nghe như cưa xẻ, tiếng cưa rít dài.

Cỏ vàng lạc bước hươu nai

Sóc buôn thấp thoáng bóng xoài đu đưa

Vườn ai, cháy trụi ngọn dừa

Mái chùa cong, gãy nét xưa diệu huyền

Voi đi lững thững, bình yên

Bỗng ngơ ngác đứng, Bom rền xa xa…

Anh vào tuyến lửa, đêm qua

Bất ngờ một trận như là bão rơi

Lại đi… “phấn khởi tơi bời”

Còn non, còn nước, còn người, cứ đi!

Rừng khuya, không ngủ, mơ gì

Sao hôm lấp lánh cũng vì miền Nam…

Chào anh du kích đất Cam

Đẹp như pho tượng Đam San thuở nào

Ngực anh đỏ tựa đồng thau

Vui tình đồng chí, trắng phau răng cười

AK nòng thép xanh ngời

Hôn anh một cái, hỡi người bạn thân!

Đường qua biên giới tới gần

Nghe lòng rạo rực, nghe chân bồn chồn.

Đơn xơ một khúc cầu con

Một khe suối nhỏ, cũng hồn quê ta.

Ôi, gò đất mịn son pha

Thắm tươi dòng máu ông cha bao đời…

Bình Long, Nam Bộ ta ơi!

Buổi đầu mới gặp mặt Người sáng nay.

Cầm hòn đất đỏ trong tay

Trái tim bỗng nghẹn như say rượu nồng

Ôm anh Giải phóng vào lòng

Đã mơ chạy khắp cánh đồng Cà Mau…

Chú lái trước, anh ngồi sau

Rừng cao su mát một màu lá xanh

Xe bay, nghiêng gió dạt cành

Đã quen lối tắt đường quanh hiểm nghèo

Đến đâu, anh cũng dám theo

Áo bà ba, mũ tai bèo chú em!

Câu thơ cũ, ai đem tới đó?

“Anh chạy vào đất đỏ làm phu

Bán thân đổi mấy đồng xu

Thịt xương vùi gốc cao su mấy từng!”

Nao nao nhìn mỗi góc rừng

Cuối hàng cây thẳng, sáng bừng trời cao.

Hầm tăng, ụ pháo, chiến hào

Dấu răng vuốt Mỹ cắn cào, còn đau!

Chị em tù những nơi đâu

Côn Lôn, Phú Quốc, dìu nhau trở về

Lá buông trắng vách lều tre

Bài ca hy vọng hát nghe ấm lòng.

Lộc Ninh xinh một cụm hồng

Ai hay đất lửa, máu nồng đơm hoa !

Cái vui sinh nở chan hoà

Nghe rừng căng sữa, nhựa ra đầu mùa

Lao xao phố thợ, chợ trưa

Sầu riêng, măng cụt cũng vừa ngọt thanh

Lá cờ nửa đỏ nửa xanh

Màu đỏ của đất, màu xanh của trời

Ngôi sao, chân lý của đời

Việt Nam, vàng của lòng người hôm nay.

Càng nhìn ta, lại càng say

Biển Đông lồng lộng gió lay ngọn cờ…

Ôi, bà mẹ tóc bạc phơ

Vườn riêng, mẹ hái trái dừa cho con

Má già với trái dừa non

Bởi thơm lòng má, nên ngon lòng dừa

Dẫu còn cay đắng, nắng mưa

Miền Nam mát ngọt, hồn ta vẫn đầy

Trăng còn che nửa bóng mây

Mà rừng lá nón đêm nay ngời ngời

Gặp nhau, đồng chí đây rồi!

Xôn xao hết đứng lại ngồi bên nhau

Chuyện nhà, Nam Bắc, trước sau

Mừng ra nước mắt, nên đau lại cười

Phải chi còn Bác vô chơi!

Bỗng nghe cháu nói… đất trời lặng thinh

Trông vời Đồng Tháp mông mênh

Mấy con thuyền ngược dòng kênh, nặng hàng

Sóng Tiền Giang gọi Hậu Giang

Có ai về đó, ta sang cùng về!

Hỡi ngư
i chị của Bến Tre

Cửu Long đồng khởi bốn bề đó chăng?

Miền Nam gan dạ ai bằng

Đội quân đầu tóc, khăn rằn vắt vai

Khăn rằn ai dệt cho ai

Sợ chi súng đạn, rào gai quân thù!

Ánh đèn soi giữa chiến khu

Mái đầu tóc bạc, võng dù hoa râm

Nhà anh lợp mái trung quân

Quanh thềm sương nắng, đêm xuân ngày hè

Ngoài vườn reo một tiếng xe

Tiếng reo se sẽ, mà nghe rộn ràng…

Chân nhanh qua ấp qua làng

Đất còn nóng lửa Trảng Bàng, Củ Chi

Dang tay một với, xa gì

Sài Gòn ơi, lại phải đi bao ngày?

Lưới nào vây nổi chim bay

Chắc trong ấy nhớ ngoài này, chẳng yên!

Chia tay lưu luyến mắt nhìn

Sầu riêng bịn rịn nhớ miền Nam xa

Ta về mở rộng đường ta

Cho Nam với Bắc vào ra thêm gần

Hành quân nhẹ bước sang xuân

Chè xanh hoa nở trắng ngần đường xe…

Vượt Bù-gia-mập, Cao Lê

Qua Xê-rê-pôk, lại về Tây Nguyên

Tây Nguyên ơi! Bước truân chuyên

Tuổi trai ta đã từng quen chốn này

Ban-mê ngục sắt những ngày

Cũng con đường máu đi đầy năm nao!

“Đường lên Đak Sút, Đak Pao…”

Ngẩng trông núi dựng trời cao lạ lùng

Bao la đất mới một vùng

Dọc ngang thế trận, quân hùng là đây!

Thác Gia-ly trắng tầng mây

Ào ào, tưởng máy điện quay tưng bừng…

Gặp anh, mừng thiệt là mừng

Chào anh Núp của núi rừng tự do!

Rằng: Qua gió lớn mưa to

Lòng dân như nước Pa-cô càng đầy

Tây Nguyên gan góc, dạn dày

Như cây lim đứng, chẳng lay giữa ngàn.

Hỏi đâu giặc đóng, giặc càn?

– Nó như kiến lửa, kiến đàn chạy quanh

Nó leo lên ngon lên cành

Mình ôm lấy gốc, nó giành thử coi!

Một lời, nghe vút tiếng roi

Nghe sông gọi suối, nghe voi gọi bầy…

“Đường lên đỉnh núi Đak Lay

Heo heo gió lạnh, sương dày vắng chim”

Biết ai mà hỏi mà tìm

Con đường xưa của trái tim, đường này

Đường đi từ tuổi thơ ngây

Nửa vòng thế kỷ, hôm nay đường về…

Hương đâu thơm lựng rừng hè

Nhặt cành lá quế mà tê tái lòng

Trà My đây, hỡi Trà Bồng

Có hay cây quế đợi trông tháng ngày?

Nâng cành quế héo trên tay

Càng thương quế ngọt quế cay cùng người!

Hội An, Đà Nẵng xa khơi

Ấy nơi mẹ ẵm, ấy nơi mẹ nằm

Nhớ cồn cát trắng giăng giăng

Nhớ thuyền Bàn Thạch, nhớ trăng biển Hàn

Hẳn còn sóng gió gian nan

Bên vui rồi lại Đại An, Sơn Trà.

Sông Trà, sông Lại, sông Ba

Khu Năm dằng dặc lòng ta mọi miền

Vạn ngày, có buổi nào yên?

Cá ăn phải máu, chim quên lối vườn

Con người, như dãy Trường Sơn

Vững chân bám trụ, chẳng sờn óc gan.

Đạn bom, bão lụt, cơ hàn

Chết đi lại sống, hết tàn lại tươi

Thuỷ chung, vẫn đậm tình người

Cắn đôi hạt muối, chung đời cháo rau

Uống cùng viên thuốc chia đau

Quên mình chia lửa, cứu nhau chia hầm.

Hỡi em, dũng sĩ mười lăm

Trẻ thơ mà đã ngang tầm nước non

Hỡi ông, tuổi tám mươi tròn

Ngực phanh Mỹ súng, tra đòn chẳng nao

Sống hiên ngang, sống thanh cao

Quê hương, biết mấy tự hào lòng ta!

*

Đường đi, như sự tình cờ

Con sông My, lại bây giờ lần theo

Vượt từ xưa, bước gieo neo

Cùng dòng thác ấy, ngủ treo đầu cành

Đọt lau, rau má vả xanh

Đói lòng, hát khúc quân hành vẫn vui.

Nhớ thương bạn, lại bùi ngùi

Nhớ làng Rô, nhớ người nuôi năm nào

Ghé thăm, lòng xót xa sao!

Bến sông lửa cháy, bom đào bãi lau

Hỏi Già, Già mất, còn đâu

Hỏi em, em đã từ lâu chết rồi!

Ôi! Làng Rô nhỏ của tôi

Cao cao ngọn núi, chiếc nôi đại bàng

Trăm năm ta nhớ ơn làng

Cánh tay che chở bước đường gian nguy

Thương em, cô gái sông My

Nắm xôi đưa tiễn anh đi qua rừng.

Anh đi, làng hỏi thăm chừng

Làng xưa, anh vẫn nhớ từng người xa

Hôm nay như trở lại nhà

Bữa cơm dưa muối cũng là liên hoan

Non cao rực rỡ ánh vàng

Đêm rằm vằng vặc bến Giàng trăng lên…

Con thuyền rời bến sang Hiên

Xuôi dòng sông Cái, ngược triền sông Bung

Chập chùng thác Lửa, thác Chông

Thác Đài, thác Khó, thác Ông, thác Bà

Thác bao nhiêu thác, cũng qua

Thênh thênh là chiếc thuyền ta trên đời.

Nỗi niềm chi rứa, Huế ơi!

Mà mưa xối xả trắng trời Thừa Thiên

Mưa từ biển nhớ mưa lên

Hay mưa từ núi vui trên A Sầu?

Nặng lòng xưa giọt mưa đau

Mát lòng nay trận mưa mau quê nhà

Mưa rào cho đất tươi da

Hố bom lấp loáng như là gương soi

Bãi sim, tà áo tím phơi

Con sông A Sá, tóc dài làm duyên

Rộn ràng tiếng hát thanh niên

Mải mê xếp đá mà quên ướt mình…

Hỡi anh lái trẻ vô tình

Dừng chân một chút mà nhìn quê tôi!

Có đâu đẹp vậy tuyệt vời

Trường Sơn lượn xuống hàng đồi thông reo

Dòng Hương nước biếc, trong veo

Gió khơi Bạch Mã, sóng đèo Hải Vân

Huế mình đẹp nhất lòng dân

Mùa Thu khởi nghĩa, mùa Xuân dậy thành

Ngày đi tóc hãy còn xanh

Mai về, dù bạc tóc anh cũng về

Nhớ ai khắc khoải chiều hè

Con chim cu gáy dốc Chè, nôn nao

*

Bàng hoàng… như giữa chiêm bao

Trắng mây Tam Đảo tuôn vào Trường Sơn

Dốc quanh sườn núi mưa trơn

Tưởng miền Nam đó, chập chờn hôm mai.

Đường đi… hay giấc mơ dài?

Nước non ngàn dặm nên bài thơ quê

(Tố Hữu, Tam Đảo, hè 1973)


KINH DỊCH & ĐẠO LÀM NGƯỜI

April 9, 2007

31- QUẺ TRẠCH SƠN HÀM
Trên là Đoài (chằm), dưới là Cấn (núi)

Kinh thượng bắt đầu bằng hai quẻ Càn Khôn: trời, đất. Có trời đất rồi mới có vạn vật, có vạn vật rồi mới có nam, nữ; có nam nữ rồi mới thành vợ chồng, có cha con, vua tôi, trên dưới, lễ nghĩa.
Cho nên đầu kinh thượng là Càn, Khôn, nói về vũ trụ; đầu kinh hạ là Hàm, Hằng, nói về nhân sự. Hàm là trai gái cảm (mến do gặp) nhau. Hằng là vợ chồng ăn ở với nhau được lâu dài.
Thoán từ:
咸: 亨, 利貞, 取女吉.
Hàm: Hanh, lợi trinh, thú nữ cát.
Dịch: giao cảm thì hanh thông, giữ đạo chính thì lợi, lấy con gái thì tốt.
Giảng: đoài là thiếu nữ ở trên, Cấn là thiếu nam ở dưới (1). Cảm nhau thân thiết không gì bằng thiếu nam, thiếu nữ. Cảm nhau thì tất hanh thông.
Thiếu nữ ở trên, thiếu nam phải hạ mình xuống cạnh thiếu nữ; hồi mới gặp nhau thì phải vậy; chứ nếu thiếu nữ cầu cạnh thiếu nam thì là bất chính, không tốt. Cho nên thoán từ bảo phải giữ đạo chính mới có lợi. Hai bên giữ đạo chính cả thì cưới vợ chắc tốt lành.
Hàm 咸 khác cảm 感 ở điểm: Cảm có chữ Tâm 心 là lòng, hàm thì không. Hàm là tự nhiên hai bên tương hợp, rồi cảm nhau, không có tư ý, không vì một lẽ nào khác, phải hư tâm (trống rỗng trong lòng) .
Đại tượng truyện khuyên: “dĩ hư tâm thụ nhân” (lấy tấm lòng không tư lợi và tự nhiên mà đối đãi với người để lấy được lòng người). Như trên núi có chỗ trũng xuống (hư) để nước đọng lại mà thành cái chằm.
Hư tâm thì lòng được tĩnh, như cái núi (nội quái là Cấn), mà vui như tính của cái chằm (ngoại quái là Đoài) (chỉ nhi duyệt; lời Thoán truyện); muốn giữ được lòng tĩnh thì phải “khắc kỉ phục lễ” tự chủ được mình mà giữ lễ.
Tóm lại, Thoán từ cho rằng trai gái cảm nhau phải chân thành, tự nhiên, vì nết, vì tài thì mới tốt; mà khi cảm nhau rồi phải tự chủ, giữ lễ, đừng để đến nỗi hóa ra bất chánh.
Coi đạo âm dương giao cảm mà sinh hóa vạn vật, thánh nhân chí thành mà cảm được thiên hạ, thì thấy được chân tình của thiên địa, vạn vật. Đạo cảm nhau quả là quan trọng.
Hào từ:
1
初六: 咸其拇.
Sơ lục: Hàm kì mẫu.
Dịch: Hào 1, âm: Như cảm ngón chân cái.
Giảng: Hào từ lấy thân người làm thí dụ. Hào 1 ở dưới cùng. Nó ứng với hào 4, thấp mà cảm với trên cao, sức cảm còn nhỏ, chưa động được lòng người, mới hơi động được ngón chân thôi. Không khen cũng không chê.
2.
六二: 咸其腓, 凶; 居吉.
Lục nhị: Hàm kì phì, hung; cư cát.
Dịch: Hào 2, âm: Cảm được bắp chân, xấu; ở yên thì tốt.
Giảng: Hào 2, cao hơn một chút, ví như bắp chân. Nó ứng với hào 5, nhưng nó là âm, phận gái, mà còn ở dưới thấp, nếu nóng lòng cầu thân với 5 thì xấu. Nó nên giữ nết trung chính (vì là hào 2 đắc trung, đắc chính) của nó thì mới tốt, như vậy mới hợp đạo lý.
Thoán truyện bảo: quẻ Hàm này, hễ tĩnh thì tốt; cho nên hào 2 này khuyên không nên động.
3.
九三: 咸其股, 執其隨, 往吝.
Cửu tam: Hàm kì cổ, chấp kì tùy, vãng lận.
Dịch: Hào 3, dương : cảm được tới đùi, chỉ muốn theo người, cứ như vậy mà tíến thì xấu.
Giảng: Hào này ở trên cùng nội quái, nên ví với bắp đùi. Nó là dương cương, ham tiến, muốn theo hào 4 cũng dương cương ở trên nó; trong thời Hàm, nên tĩnh mà nó động, lại động theo người nữa, đáng chê.
4.
九四: 貞吉悔亡; 憧憧往來, 朋從爾思.
Cửu tứ: Trinh cát hối vong; đồng đồng vãng lai, bằng tòng nhĩ tư.
Dịch: Hào 4, dương: hễ chính đáng thì tốt, mà mất hết những điều đáng ăn năn. Nhược bằng nếu lăng xăng tính toán có qua có lại với nhau thì những người qua lại với anh chỉ là những người anh nghĩ tới mà thôi (ý nói: số bạn không đông, đoàn thể không lớn).
Giảng: Hào này đã lên ngoại quái, dương cương, lại ở quẻ đoài (vui vẻ), tức là có tình hoà duyệt, nặng về cảm tính, cho nên ví với trái tim (tấm lòng). Tình cảm phải chính đáng, chí công vô tư, như vậy mới tốt, không phải ăn năn. Nếu có óc tính toán, tốt với người để mong người tốt lại với mình, có đi có lại thì số bạn không được đông.
Theo Hệ từ truyện, Chương V, Khổng tử giảng hào này rất kỹ, chúng tôi trích ra đoạn dưới đây:
“Đạo lý trong thiên hạ, cần gì phải ngẫm nghĩ bằng ý riêng, tính toán bằng mẹo vặt, vì thiên hạ đường đi tuy khác nhau mà qui kết thì ý như nhau: tính toán trăm lối mà cuối cùng chỉ tóm vào một lẽ (lẽ đó là: có cảm thì có ứng, ứng lại gây ra cảm) cần gì phải ngẫm nghĩ bằng ý riêng, tính toán bằng mẹo vặt…”
5.
九五: 咸其脢, 无悔.
Cửu ngũ: Cảm kì mỗi, vô hối.
Dịch: Hào 5, dương : Cảm tới bắp thịt ở trên lưng, không hối hận.
Giảng: Bắp thịt ở trên lưng, cao hơn tim (hay lòng) mà trái với tim, không cảm được vật. Không cảm được vật mà cũng không có tư tâm, tư ý, nên cũng không có gì hối hận. Có lẽ vì hào 5 này dương cương, ở vị rất cao, trung, chính, cách biệt dân chúng quá, cho nên Chu Hi bảo là “không cảm được vật” chăng?
6.
上六: 咸其輔, 頰, 舌.
Thượng lục: Hàm kì phụ, giáp, thiệt.
Dịch: Hào trên cùng, âm: Cảm người bằng mép, má, lưỡi.
Giảng: Hào này ở trên cùng Hàm, nên ví với mép, má, lưỡi. Nó là âm nhu ở trong ngoại quái Đoài (vui vẻ), ham cảm người ta bằng miệng lưỡi, không thành thực. Chẳng cần nói cũng biết là đáng chê rồi.

*

Đạo cảm người phải chí thành, tự nhiên, không dùng trí tính toán, nhưng cũng không nên có tư ý, tư tâm.

32. QUẺ LÔI PHONG HẰNG
Trên là Chấn (sấm), dưới là Tốn (gió)

Ở đầu quẻ Hàm, tôi đã nói tại sao sau quẻ Hàm (trai gái cảm nhau) tiếp tới quẻ Hằng (đạo vợ chồng có tính chất lâu dài). Hằng: trên là Chấn trưởng nam, dưới là Tốn trưởng nữ; chồng trên, vợ dưới, rất hợp đạo, thì tất được lâu dài.
Thoán từ :
恆: 亨, 无咎; 利貞, 利有攸往.
Hằng: Hanh, vô cữu; lợi trinh, lợi hữu du vãng.
Dịch: Lâu dài thì hanh thông, không có lỗi; giữ được chính đạo thì có lợi, tiến hành việc gì cũng thành công.
Thoán truy
n giảng: Cương (Chấn) ở trên, nhu (Tốn) ở dưới, sấm gió giúp sức nhau, Chấn động trước, Tốn theo sau, thế là thuận đạo. Lại thêm ba hào âm đều ứng với ba hào dương, cũng là nghĩa thuận nữa, cả hai bên đều giữ được đạo chính lâu dài.
Hào từ:
1
初六: 浚恆, 貞凶, 无攸利.
Sơ lục: tuấn hằng, trinh hung, vô du lợi.
Dịch: Hào 1, âm: Quá mong được thân mật lâu dài; cứ quyết (trinh) như vậy, không chịu bỏ thì xấu, không làm gì được thuận lợi cả.
Giảng: Hào 1 ứng với hào 4, nhưng địa vị mình quá thấp, địa vị 4 quá cao, mà 4 là dương cương, chỉ trông lên không ngó xuống mình; lại thêm có hai hào 2 và 3 ngăn cách vậy mà không biết phận cứ tiến sâu (tuấn là sâu), mong được thân mật lâu dài, keo sơn với 4, thành ra ngu. Cứ kiên cố giữ cách ấy thì xấu.
2.
九二: 悔亡.
Cửu nhị: hối vong.
Dịch: Hào 2, dương: hối hận tiêu hết.
Giảng: Hào này dương cương ở vị âm, đáng lẽ có hối hận, nhưng vì đắc trung lại ứng với hào 5 cũng đắc trung, thế là giữ được đạo trung, nên không có gì hối hận.
3.
九三: 不恆其德, 或承之羞, 貞吝.
Cửu tam: Bất hằng kì đức, hoặc thừa chi tu, trinh lận.
Dịch: Hào 3, dương : không thường giữ được cái đức của mình, có khi bị xấu hổ, dù chính đáng cũng đáng tiếc.
Giảng: Hào dương ở vị dương là đắc chính, nếu thường giữ được đức “chính” đó thì tốt; nhưng vì quá cương mà bất đắc trung, lại theo đòi với hào trên cùng âm nhu, thế là bỏ cái đức chính của mình, muốn kết bạn với hào trên cùng, chưa biết chừng bị xấu hổ đấy. Vậy 3 tuy “chính” đấy, nhưng chỉ vì không thường giữ được đức đó, thì tuy chính mà vẫn đáng tiếc.
4.
九四: 田无禽.
Cửu tứ: Điền vô cầm.
Dịch: Hào 4, dương : như đi săn mà không được cầm thú.
Giảng: Hào dương mà ở vị âm, là không phải chỗ của mình mà cứ ở lâu chỗ đó, vì trong quẻ Hằng, thì chẳng nên việc gì, chỉ mất công thôi, như đi săn mà không bắt được cầm thú.
5.
六五: 恆其德, 貞. 婦人吉, 夫子凶.
Lục ngũ: Hằng kỳ đức, trinh. Phụ nhân cát, phu tử hung.
Dịch : Hào 5, âm: giữ được thường (lâu) đức của mình, bền mà chính. Đàn bà thì tốt, đàn ông thì xấu.
Giảng: Hào 5, âm nhu, đắc trung, ứng với hào 2 dương cương cũng đắc trung, nếu cứ thuận tòng từ trước tới sau thì là bền mà chính đáng. Nhưng đó chỉ là đạo của đàn bà như hào 5, âm này thôi; không hợp với đàn ông, vì theo quan niệm thời xưa: phu xướng phụ tùy.
Tiểu tượng truyện giảng thêm, đàn ông phải tìm ra cái gì đáng làm thì làm (phu tử chế nghĩa), chứ cứ một mực theo vợ thì xấu.
6.
上六: 振恆, 凶.
Thượng lục: chấn hằng, hung.
Dịch: Hào trên cùng, âm: cử động hoài, không chịu yên thì xấu.
Giảng: Ở trên cùng quẻ Hằng và ngoại quái Chấn, cho nên nói là ham động quá, lại âm nhu, không bền chí, ở yên không được sẽ thất bại.

*

Quẻ này quan trọng ở hào 5: đạo “phu xướng phụ tùy” của Trung Hoa thời xưa. Một lời khuyên là theo lý mà làm, đừng hành động càn.


Entry for April 09, 2007

April 9, 2007

Magia Gangbi Shufa:


诚者天之道也诚之者人之道也诚者不勉而中不思而得从容中道圣人也诚之者择善而固执之者也博学之审问之慎思之明辨之笃行之

“Thành giả, thiện chi đạo dã”; Thành chi giả, “Nhân chi đạo” dã. Thành giả, bất miễn nhi trung, bất tư nhi đắc. Tòng dung trung đạo, Thánh nhân dã. Thành chi giả, trạch thiện nhi cố chấp chi giả dã: Bác học chi, thẩm vấn chi, thận tư chi, minh biện chi, đốc hành chi.

Thành thật là đạo của trời, tu tập để trở nên thành thật là đạo của người vậy. Tự nhiên thành thật, thì chẳng cần cố gắng cũng đúng đạo, chẳng cần suy nghĩ cũng hiểu được đạo. Cứ thong thả mà giữ đạo Trung Dung, đó là Thánh nhân vậy. Người tu tập để trở nên thành thật thì chọn lựa lấy điều thiện, mà giữ lấy thật chặt chẽ: học cho rộng, hỏi cho kỹ, suy nghĩ cẩn thận, biện luận cho sáng và dốc lòng mà làm.

***

Nội dung bức Thư pháp:

Phần chính văn:
Như trên.
Phần lạc khoản:
Đinh hợi xuân, Nhất Nhị Tam thư.
Ấn chương:
Hư Như.