Entry for April 01, 2008

March 31, 2008

Image

Lọ mọ với web NVN mệt quá!:D…

Chưa đâu vào đâu cả! (Biết rồi ta học thêm)…

Mấy hôm trước do thích “Bích hải triều sinh khúc” mà 123 có đề cập đến Hoàng Dược Sư. Nhắc đến Hoàng tiên sinh tự nhiên lại liên tưởng đển hai chủ đề về thảo mộc: Hoa đào (liên quan đến Đảo đào hoa) và Thạch Lựu Mộc (Liên quan ông Hoàng “Thạch Lựu”:D). Theo chủ định thì sẽ viết một blog về hoa đào trước, nhưng hôm nay lại là sinh nhật của Thạch Lựu Mộc – làm 123 lại nhớ đến những ngày cùng thiết trà ở Nhà sách Hào Nam và Quán H.N. – nên post bài về Thạch Lựu trước để làm quà chúc mừng sinh nhật vậy:D

Image

Image

Image

Image

Image

Image


Ðua chen thu cúc xuân đào
Lựu phun lửa hạ mai chào gió đông
(Bích Câu Kỳ Ngộ – Vô danh thị)

Image

Bích Câu Kỳ Ngộ

( khuyết danh )

Mấy trăm năm một chữ tình,
Dưới trời ai kẻ lọt vành hóa nhi.
Cơ duyên ngẫm lại mà suy,
Trời Nam nào có xa gì cõi Tây.
Tương duyên kỳ ngộ xưa nay,
Trước kia Lưu, Nguyễn, sau này Bùi, Trương.
Kìa ai mê giấc Đài Dương,
Mây mưa là chuyện hoang đường biết đâu?

Thành Tây có cảnh Bích Câu,
Cỏ hoa góp lại một bầu xinh sao!
Đua chen Thu Cúc, Xuân Đào,
Lựu phun lửa hạ, Mai chào gió đông.
Xanh xanh dãy Liễu, ngàn Thông,
Cỏ lan lối mục, Rêu phong dấu tiều.
Một vùng non nước quỳnh giao,
Phất phơ gió trúc, dặt dìu mưa hoa.

Triều Lê đương hội thái hòa,
Có Trần công tử tên là Tú Uyên.
Phúc lành nhờ ấm xuân huyên,
Số trong tài mạo kiêm tuyền kém ai.
Thông minh sẵn có tư trời,
Còn khi đồng ấu mãi vui cửa Trình.
Trải xem phong cảnh hữu tình,
Lâm toàn pha lẫn thị thành mà ưa.
Liền khu trùm một lầu thơ,
Lau già chắn vách, trúc thưa giũ rèm.
Thừa hư đàn suối ca chim ,
Nửa song đèn sách, bốn thềm gió trăng.
Của chung huy hoắc đâu bằng,
Chứa kho vàng cúc, chất từng tiền sen .
Khắp so trong cõi ba nghìn ,
Yên hà riêng nửa, lâm tuyền chia đôi.
Thú vui bốn bạn thêm vui
Khắp trong bể thánh, đủ ngoài rừng tao

Thoi đưa ngày tháng sương sao,
Ngô vừa rụng lá lại đào nẩy hoa.
Trời hôm giục bóng dâu tà,
Xuân già e tuyết, huyên già ngại sương .
Não người thay! nỗi tang thương,
Trông vùng mây trắng ngất đường non xanh.
Vai còn đôi gánh thâm tình,
Bầu Nhan đã sạch sành sanh còn gì!
Mấy phen hạ tới thu về,
Lọt mành nắng rõ, quanh hè tuyết xây.
Chiều trời lạnh ngắt hơi may,
Mai tàn trước gió, liễu gầy sau sương!
Lơ thơ nửa mái thảo đường,
Phên thềm lọt gió, vôi tường thấm mưa!
Phong quang lạ khác dấu xưa,
Ao tù sen rũ, rào thưa, cúc cằn.

Sinh từ gặp bước gian truân,
Vinh khô gọi nếm mùi Trần chút chơi.
Cùng thông dù mặc có trời,
Nguôi dần bể khổ, san vơi mạch sầu.
Lôi thôi cơm giỏ nước bầu ,
Những loài yến tước biết đâu chí hồng .
Thề xưa đã nặng với lòng,
Dẫu sau trắng nợ tang bồng mới thôi.
Ao nghiên giá bút thảnh thơi,
Tây hồ tiên tích mấy nơi phẩm bình.
Thi hào dậy tiếng Phượng thành,
Vào phen Lý, Đỗ, nức danh Tô, Tào .
Ngửa nghiêng lưng túi phong tao,
Nước, non, mây, gió, chất vào còn vơi.
Châu ken chữ, gấm thêu lời ,
Vàng gieo tiếng đất, hạc khơi bóng thuyền.
Đã người trong sách là duyên ,
Mấy thu hạt ngọc Lam điền chưa giâm.
Lửng lơ chiếc lá doành nhâm,
Cắm thuyền đợi khách, ôm cầm chờ trăng.

Ngọc Hồ có đám chay tăng ,
Nức nô cảnh Phật, tưng bừng hội Xuân.
Dập dìu tài tử giai nhân ,
Ngổn ngang mã tích xa Trần thiếu ai .
Thưởng Xuân sinh cũng dạo chơi,
Thơ lưng lưng túi, rượu vơi vơi bầu.
Mảng xem cây phạm thú mầu,
Vầng kim ô đã gác đầu non tê .
Tiệc thô ai nấy cùng về,
Gió chiều lay bóng hoa Lê la đà.
Bân cầu đàn lũ năm ba,
Thần tiên trước mắt ai là kẻ hay!
Sinh vừa tựa liễu nương cây,
Lá hồng đâu đã thổi bay lại gần.
Mắt coi mới tỏ dần dần,
Mấy dòng chữ viết ba vần bốn câu .
Trông qua lặng ngắt giờ lâu,
Ấy ai thả lá doành câu ghẹo người .
Vừa toan họa lại mấy lời,
Gió hương đâu đã bay hơi nồng nàn.

Thấy người trước cửa tam quan,
Theo sau ba bảy con hoàn nhởn nhơ.
Lạ lùng con mắt người thơ,
Hoa còn phong nhụy, trăng vừa tròn gương.
Rành rành xuyến ngọc thoa vàng,
Quần Nghê tha thướt, sóng Tương rượm rà .
Mỉa chiều nét ngọc làn hoa,
Cá chìm mặt nước, Nhạn sa lưng trời .
Gần xem vẻ mặt thêm tươi,
Mùi hương thoang thoảng thơm rơi ít nhiều.
Làn thu lóng lánh đưa theo,
Não người nhăn chút lông nheo cũng tình .
Vốn mang cái bệnh Trương sinh,
Gặp người nghiêng nước nghiêng thành biết sao?
Đưa tình một nét sóng đào,
Dẫu lòng sắt đá cũng xiêu, lọ người.
Nhân duyên ví chẳng tự trời,
Từ lang chưa dễ lạc vời non tiên.

Dù mặt lạ đã lòng quen,
Cả liều đến gốc thu thiên ướm nàng:
“Quá vui nên trót sỗ sàng,
“Thử tình cho kẻo bẽ bàng với hoa.”
Khách rằng: “Trong hội Vô già,
“Cửa không, ngàn giác đấy là từ bi .
“Gió bay những tiếng thị phi,
“Trót lầm thôi có trách gì đến ai.”
Giọng kiều nghe lọt vào tai,
Đã gần bể sắc, khôn vơi sóng tình.
Thưa rằng: “Chút phận thư sinh,
“Đèn từ soi đến tấm thành với nao!
“Chi viên nỡ hẹp hòi sao,
“Mở đường phương tiện chút nào được chăng?”
Rằng: “Đây về đạo kim thằng,
“Trăng hoa sao khéo nói năng những lời.
“Bến từ có hẹp chi ai,
“Dốc đem thuyền giác độ người bến mê.
“Ngán cho bên cõi bồ đề,
“Phải đường ong bướm đi về đấy sao?
“Đoá hoa sẵn nhạc vàng treo,
“Tiếng oanh chỉ để lao xao trên cành.”
Lặng nghe lọt đến giọng tình,
Lòng tham quanh cả bên mình mỹ nhân.
Rằng: “Đây lầm xuống mê tân,
“Tiền duyên xin để kim thân tu đền.
“Ba sinh cho vẹn mười nguyền,
“Nhờ tay kim tướng, đưa duyên xích thằng.
“Gậy linh mượn phép cao tăng,
“Phá thành sầu khổ cho bằng mới cam.
“Chày sương đợi khách cầu Lam,
“Phẩm tiên may bén tay phàm biết đâu.
“Nước bèo dù có duyên sau,
“Bên sông thử bắc nhịp cầu từ đây.”

Người còn cợt gió, đợi mây,
Gót tiên khách đã trở giầy làm thinh.
Ngóng theo đến Quảng Văn Đình,
Bóng trăng trông đã trên cành lướt qua.
Mượn người thăm hỏi gần xa,
Hồng Lâu Tử Các đâu mà đến đây?
Hay là quán nước, làn mây,
Gió xuân thổi xuống chốn này đấy sao?
Dám xin trỏ lối cho nao,
Tới non Ngọc dễ ai nào về a!
Ơn lòng nhắm liễu thăm hoa,
Biết đâu sắc sắc vẫn là không không
Thoắt thôi lẩn bóng ngàn thông,
Hương trầm còn thoảng cánh hồng đã khơi.
Xe loan gió cuốn lưng trời,
Tiên về động bích, tình rơi cõi Trần.
Ngửa trông năm thức mây vần,
Hồn chưa đến chốn non thần đã mê.

Lần trăng ngơ ngẩn ra về,
Đèn thông khêu cạn, giấc hòe chưa nên.
Nỗi nàng canh cánh nào quên,
Vẫn còn quanh quẩn người tiên khéo là?
Bướm kia vương lấy sầu hoa,
Đoạn tương tư ấy nghĩ mà buồn tênh!
Có khi gẩy khúc đàn tranh,
Nước non ngao ngán ra tình hoài nhân.
Cầu hoàng tay tựa nên vần,
Tương Như lòng ấy, Văn Quân lòng nào.
Có khi mượn chén rượu đào,
Tiệc mồi chưa cạn, ngọc dao đã đầy.
Hơi men chưa nhấp đã say,
Như xông mùi nhớ, như gây giọng tình.
Có khi ngồi suốt năm canh,
Mõ quyên điểm nguyệt, chuông kềnh nện sương.
Ỏi tai những tiếng đoạn trường,
Lửa tình dễ nguội, sông Tương khôn hàn.
Có đêm ngắm bóng trăng tàn,
Tiếng quyên hót sóm, trận nhàn bay khuya.
Ngổn ngang cảnh nọ tình kia,
Nỗi riêng, riêng biết, dãi dề với ai!
Vui xuân chung cảnh một trời,
Sầu xuân riêng nặng một người tương tư.
Lòng yêu tay tả nên thơ,
Mảnh tình phong với mảnh tờ đưa theo.
Ả Hằng ví nặng lòng yêu,
Rẽ mây mở lối tinh thiều cho nao!
Hỏi cho giáp mặt hoa đào,
Vườn xuân chẳng lẽ ngăn rào mãi ru!

Đồng song có gã họ Hà,
Ướm tình mới hỏi lân la gót đầu.
Cớ sao chuốc não mua sầu,
Bữa thường ngao ngán như màu nhớ ai?
Bấy nay vắng vẻ thư trai,
Vóc sương nghe đã kém vài bốn phân.
Nguồn cơn ngỏ với cố nhân,
Họa may sẽ giúp được phần nào chăng?
Điều đâu thực khéo như rằng,
Nói vào hợp ý, khôn bưng lòng người.
Song mà tình chẳng riêng ai,
Bệnh tương tư có trải mùi mới hay.
Người ngu đấng thánh xưa nay,
Tình chung chẳng ở vòng này hay sao?
Nói dù nghe cũng thế nào,
Lặng dù, nghe cũng nao nao chẳng đành.
Bệnh căn khôn lẽ dấu quanh,
Cầm tay mới kể đinh ninh mọi điều.
Nói bao nhiêu, tưởng bấy nhiêu,
Ghê cho sắc ngọc dễ xiêu lòng vàng.
Những là tiếc phấn say hương,
Nên vò lưới nhện mà vương tơ tằm.
Sầu dường bể, khắc như năm,
Xương mai chịu được mấy lăm mà gầy!
Nghìn xưa âu cũng thế này,
Gánh sầu san sẻ ai đầy ai vơi?
Lạ cho cái giống hương trời,
Biết năm biết thuở, biết đời nào quên.

Hà nghe nói hết căn nguyên,
Nghĩ xem chuyện ấy quả nhiên rằng kỳ.
Chẳng thần nữ, cũng tiên phi,
Duyên xưa còn có chút gì hay không.
Lá hồng ra mối chỉ hồng,
Nước bèo kia cũng tương phùng có phen.
Ngọc Liên nghe có Hóa Tiên,
Thánh Tông thuở trước qua miền ấy chơi.
Lầu chuông bỗng gặp một người,
Ngâm câu thần kệ, vịnh bài quốc âm.
Ngự khen tú khẩu cẩm tâm,
Mến riêng vì sắc, yêu thầm vì thơ.
Rước về rắp gạn tóc tơ,
Gót tiên bỗng thoắt bao giờ còn đâu?
Mười lăm năm nọ chưa lâu,
Còn di tích đó là lầu Vọng Tiên
Lạ tai nghe những chẳng tin,
Thử coi cho thấy nhỡn tiền mà ghê.
Nhận ra trong lá thơ đề,
Bút tiên chi để điểm mê lòng phàm.
Những là én bắc nhạn nam,
Cánh hoa mặt nước dễ làm sao đây?
Tuy rằng cách trở đông tây,
Dẫu xa, xa cũng có ngày gần nơi.
Gác xuân cách mấy dặm khơi,
Nhân duyên đành để gió trời thổi đưa.

Hà rằng: “Hương lửa duyên xưa,
“Có khi tình trước còn chờ hội sau.
“Đành rằng kỳ ngộ nan cầu,
“Biết đâu non thẳm doành sâu mà tìm.
“Biết đâu nhắn cá gửi chim,
“Vớt trăng dưới nước, mò kim trong doành.
“Biết đâu ả Tố, nàng Quỳnh,
“Cớ chi nhớ quẩn sầu quanh khéo là.
“Chuốc mua lấy nợ phong hoa,
“Mối tơ phó mặc trăng già phải nao!
“Xuân sang xuân đã già nào,
“Chờ sau mai nở thì đào chẳng lâu.”
Vắt tay ngâãm nghĩ xưa sau,
Như ai cất hẳn gánh sầu thoảng không.
Nói cười tươi tắn thong dong,
Đổi lòng phong nguyệt ra lòng vân thiên.
Thôi mong khách, lại chờ tin,
Thư hồng ngày mỏi, chăn uyên đêm dài.
Bâng khuâng một mối viễn hoài,
Khi trong sân tuyết, khi ngoài trời tây.
Ngày thường ngắm cảnh am mây,
Người buồn xui cả cỏ cây cũng buồn.
Còn trời, còn nước, còn non,
Mây xanh nước biếc vẫn còn như xưa.
Hoa đào còn đó trơ trơ,
Mà người năm ngoái bây giờ là đâu?
Vù vù gió thổi rèm lau,
Càng như chất mối tơ sầu vào thêm.

Chạnh đâu nhớ chuyện bốc tiêm,
Tới đền Bạch Mã, giải niềm cầu duyên.
Khấn rồi ra góc tây hiên,
Nén hương tắt đỏ, ngọn đèn nhỏ to.
Bóng trăng vừa xế cành ngô,
Giấc hoè dìu dịu, chăn cù êm êm.
Thấy người cao mũ rộng xiêm,
Tay cầm thiết bảng, trang nghiêm khác vời.
Trước sân sang sảng dạy l
ời,
Rằng: “Mai sớm đợi ta ngoài sông Tô.
“Lọ là Oanh Yến hẹn hò,
“Cầu Đông sẵn lối, cầu Ô đó mà!”
Vội mừng chợt tỉnh giấc hoa,
Sao vừa nhàn nhạt, trời vừa eo eo.
Lòng yêu phải bước chân theo,
Xăm xăm ra đó vắng teo thấy gì.
Nước trong vắt, cỏ xanh rì,
Thạch Kiều thấy đó giai kỳ nào đâu?

Trông mong đã suốt giờ lâu,
Ôm cây mãi thế, ra màu cũng quê.
Chán chiều thơ thẩn ra về,
Xem tình dở tỉnh dở mê nực cười.
Bỗng may lại gặp một người,
Tay mang tranh vẽ, gót dời đường hoa.
Liền tay xin lĩnh xem qua,
Truyền thần một tượng Tố Nga rành rành.
Dịu dàng vẻ đạm màu thanh,
Như người gặp Quảng Văn Đình ngày xưa.
Càng nhìn nét bút càng ưa,
Chàng Vương dẫu mạc bao giờ cho nên.
Mua về treo chốn thư hiên,
Như ai đem ngọc giải phiền lại cho.

Mưa hoa khép cánh song hồ,
Sớm khuya với bức họa đồ làm đôi.
Mâm chung một, đũa thêm hai,
Thơ trao dưới nguyệt, rượu mời trước hoa.
Tưởng gần thôi lại nghĩ xa,
Có khi hình ảnh cũng là phát phu.
Êm trời vừa tiết trăng thu,
Ngàn sương rắc bạc, lá khô rụng vàng.
Chiều thu như gợi tấm thương,
Lòng người trông xuống sông Tương mơ hình.
Kề bên năn nỉ bày tình,
Nỗi nhà thuở trước, nỗi mình ngày xưa.
Từ phen giáp mặt đến giờ,
Những là ngày tưởng đêm mơ đã chồn.
Ấy ai điểm phấn tô son,
Để ai ruột héo, gan mòn vì ai?
Buồn đào nửa bước chẳng rời,
Nghìn vàng đổi được trận cười ấy chăng?
Rày xin bẻ khoá cung trăng,
Vén mây mở mặt chị Hằng, chút nao!
Chợt trông mấp máy miệng đào,
Mặt hoa hớn hở dường chào Chúa đông.

Cho hay tình cũng là chung,
Khách tiên chưa dễ qua vòng ái ân!
Một khi ra việc tràng văn,
Trở về đã thấy bát trân sẵn sàng.
So xem phong vị khác thường,
Mùi hoa sực nức, mùi hương ngạt ngào.
Bếp trời sẵn đấy hay sao?
Của đâu thấy lạ, lòng nào chẳng nghi?
Rạng mai cứ buổi ra đi,
Liệu chừng thoắt trở lại nhà thử coi.
Sẩy đâu thấy sự lạ đời:
Trong tranh sao có bóng người vào ra?
Nhơn nhơn mày liễu mặt hoa,
Này người khi trước, đâu mà đến đây?

Nàng đương trang điểm nào hay,
Cửa ngoài sẽ hé cánh mây bước vào.
Vội vàng đánh tiếng ra chào,
Bên mừng, bên lệ, xiết bao là tình!
Rằng: “Bấy lâu một chữ tình,
“Gặp đây xin tỏ tính danh cho tường.”
Nàng rằng: “Bồ liễu phận thường,
“Vì mang má phấn, nên vương tơ điều.
“Vốn xưa thiếp khách thanh tiêu,
“Tiên thù là hiệu, Giáng Kiều là tên.
“Ba sinh đã nặng vì duyên,
“Đem thân liễu yếu, kết nguyền đào thơ.
“Nhân duyên đã định ngày xưa,
“Tơ trăng xe đến bây giờ mới thân.
“Cũng là nhờ đức tiên quân,
“Đóa hoa biết mặt chúa xuân từ rày.”
Sinh rằng: “Trong bấy lâu nay,
“Nhắp sầu, gối muộn, có ngày nào ngơi!
“Đã rằng: Tác hợp duyên trời,
“Làm chi cho vẩn lòng người lắm nau?”
Nàng rằng: “Xin quyết gieo cầu,
“Tấm son thề với trên đầu xanh xanh.
“Dám đâu học thói yến oanh,
“Mặn tình trăng gió, nhạt tình lửa hương.
“Gieo thoi trước đã dở dang.
“Sau nên nát đá phai vàng như chơi.
“Mái Tây còn để tiếng đời,
“Treo gương kim cổ cho người soi chung.
“Lạ chi hoa với gió đông,
“Tiếc hương, vả cũng nể lòng chim xanh.
“Một mai mưa gió bất tình,
“Vóc tàn, nên để yến oanh hững hờ.
“Nghĩ trong thân phận yếu thơ,
“Làm chi để tiếng sờ sờ lại sau?”

Nói thôi rút chiếc trâm đầu,
Biến hình liền thấy đôi hầu theo ra.
Tưng bừng sắm sửa tiệc hoa,
Bình trầm đưa khói, chén hà đậm hương.
Giọng tình sánh với quỳnh tương,
Giả say sinh mớ toan đường lần khân.
Thưa rằng: “Túc trái tiền nhân,
“Không dưng dễ xuống cõi Trần làm chi.
“Song còn mấy bạn tương tri,
“Bấy lâu chưa có chút gì là đâu.
“Trước xin từ biệt cùng nhau,
“Chữ duyên này trở về sau còn dài.”
Nghe lời nói cũng êm tai,
Chìu lòng chi nỡ ép nài mưa mây.
Trước sân mừng cuộc tỉnh say,
Tiếng vui đãi nguyệt, tiệc bày đối hoa.
Bóng mây bỗng kéo quanh nhà,
Thảo am thoát đã đổi ra lâu đài.
Tường quang sáng một góc trời,
Nhởn nhơ áo, mũ, xiêm, hài, biết bao!
Người yểu điệu, khách thanh tao,
Mỗi người một vẻ, ai nào kém ai.
Lả lơi bên nói bên cười,
Bên mừng cố hữu, bên mời tân lang.
Đong đưa khoe thắm đua vàng,
Vũ y thấp thoáng, Nghê thường thiết tha.

Yến tân chuốc chén năm ba,
Người còn vui tiệc, khách đà cáo say.
Kẻ ra nương bánh xe mây,
Người vào trong gấm vui vầy bạn loan.
Lả lơi cười với hoa nhan,
Trải chăn thúy vũ, buông màn phù dung.
Phòng tiên dìu dặt chén đồng,
Rèm tương giủ thấp, trướng hồng treo cao.
Ngẩn ngơ hé cửa động đào,
Mây tuông bể ái, mưa rào sông ân.
Mấy vàng đổi được khắc xuân,
Xưa nay tài tử, giai nhân lạ gì?
Cho hay thiên tải giai kỳ,
Trăng già xe đã phải thì đào non.
Cũng là môt mốt tơ son,
Năm trăm năm cũng vuông tròn từ đây.
Đàn cầm từ thuở bén dây,
Khi đằm thắm đã, bỏ ngày nhớ nhung!
Khi gió mát, lúc trăng trong,
Bầu tiên chuốc rượu, tơ đồng nối dây.
Khi tuyết xuống, lúc hương bay,
Câu thơ trên gác, bàn vây bên bình.
Tài hoa quốc sắc khuynh thành,
Cầm, kỳ, thi, tửu, đủ vành Trần duyên.
Ngươi tao nhã, khách thuyền quyên,
Phong, hoa, tuyết, nguyệt, là tiên trên đời.
Nhà lan sum họp ban mai,
Đã trong tần tảo, lại ngoài ty ca.

Dần dần năm đã kể ba,
Hạnh và độ thắm, Liễu và phần son.
Duyên ai tính đã vuông tròn,
Nào hay nợ trước chút còn dở dang.
Trần Sinh từ thuở gặp nàng,
Vui vầy mê mải nên càng quá xưa.
Một ngày say mấy canh thừa,
Khuyên can nàng mới ngỏ thưa ít nhiều.
Rằng: “Xin gửi một hai điều,
“Thân trăm năm nỡ bỏ liều thế ư!
“Thiếu gì những chuyện ngày xưa,
“Còn bia miệng đó trơ trơ chưa mòn!
“Ấy ai dỗi gót bên non,
“Bóng trăng Thái Thạch là hồn ai say!
“Ví còn lầm trước chưa hay,
“Thì đem gương ấy sau này mà soi.”
Ngán thay khuyên nhủ đến lời,
Nưóc kia dội đá có mùi gì đâu.
Thôi ngày trọn, lại đêm thâu,
Cạn chung Lý Bạch, nghiêng bầu Lưu Linh.
Ma men quanh quẩn bên mình,
Cho đàn trễ phím, cho bình nhạt hương.
Mải mê say tỉnh tâm trường,
Liệu bài nàng lại tìm đường van lơn.
Trái tai vả lại ngứa gan,
Đang tay nỡ dập hoa tàn tả tơi.
Dây đồng đứt hẳn làm đôi,
Cánh bèo theo ngọn nước trôi cũng rầu!
Nàng càng tầm tả tuôn châu,
Ngán nhân tình khéo ra màu thắm phai.
Rằng: “Thôi, tôi đã quá lời,
“Xui lòng nghĩ lại một hai kẻo mà…”
Sinh đang vui chén la đà,
Vẩn vơ tính quỉ hồn ma biết gì.
Nói thôi, nói cũng chi chi,
Nghe ra tiếng nặng như chì, giọng say!
Nàng rằng: “Duyên nợ bấy nay,
“Thương ôi nước đổ bốc đầy được đâu.
“Tiếc cho nỗi vợ chồng Ngâu,
“Doành thu nên để bắc cầu mấy phen!
“Sá chi nữa, cái hoa hèn,
“Nghĩ làm chi nữa cái duyên cũ càng.
“Đã lòng rẻ thúy chia hương,
“Đành lòng rẫy ngọc, ruồng vàng thì vâng.
“Thôi thôi, thôi cũng cầm bằng,
“Tơ hồng phó trả bà trăng cho rồi.”
Lạy rồi, đứng lại sân ngoài,
Bên bàn say tỉnh mặc người ngồi trơ.

Sinh còn đương cuộc nào ngờ,
Tỉnh dần dần lại, bây giờ biết sao?
Biết phương nào, biết chước nào,
Có chăng còn lúc chiêm bao họa là!
Non thần mấy dặm đường xa,
Khói mây man mác dễ mà hỏi, vay!
Cát vàng bụi bạc xa bay,
Mây trên mặt đất, non xây chân trời.
Ngắt chừng bể thẳm doành khơi,
Đường xa bao ngả tình dài bấy nhiêu.
Buồn trông quãng vắng đường queo,
Gió lay nhẹ lá, sương gieo nặng cành.
Buồn trông cửa bể mông mênh,
Con thuyền thấp thoáng cuối ghềnh ngổn ngang.
Buồn trông cuối phố hàng đường,
Cánh hồng man mác, hạt sương đầm đìa.
Buồn trông theo giải Tô Khê,
Chim kêu bụi rậm, Trâu về đồng không.
Cảnh buồn như giục tấm lòng,
Lại thêm vấn vít mấy vòng tơ vương.
Ấy ai phải vía chàng Trương,
Non tiên cách một bước đường nên xa.
Hay là lỗi sổ Hằng Nga,
Đêm đông vò võ bóng tà sao thưa.
Nghĩ tình nên những ngẩn ngơ,
Ai lên đường ấy, ai chờ đợi ai?
Dần dần trăng tối gió may,
Nghĩ sao cho xiết sự đời phôi pha!
Trêu ngươi chi bấy trăng già,
Xe dây mỏng mảnh ỡm ờ mà chơi.
Cho nên cách trở đôi nơi,
Hoa trôi cửa động, nước xuôi cõi Trần.
Nghĩ riêng, riêng những ăn năn,
Phấn Hồ, còn đó, tinh thần nào đâu?
Càng thêm ngao ngán trăm chiều,
Giấc nào nào nhắp, bữa nào nào ngon.
Xác ve ngày một héo mòn,
Xác gan con vượn, mơ hồn cái quyên.
Tả lòng tay thảo mười thiên,
Mấy câu mấy chữ, mấy nghìn câu rơi.

Hà Sinh phải buổi sáng chơi,
Xót tình khế hữu liêu bài giải khuyên:
“Biết đâu rằng quỉ rằng tiên,
“Một may một rủi thôi phiền não chi.
“Dù tiên duyên đã mãn kỳ,
“Chờ cho duyên hợp châu về mòn hơi!
“Hãy xin gắng gượng làm tươi,
“Gánh sầu trút cả cho người phải nao!
“Lỡ ra khi đến thế nào,
“Mà cho mắt tục trông vào sao nên.”
Rằng: “Xưa trót đã nặng nguyền,
“Phải đem vàng đá mà đền mới xuôi.
“Cũng đành cho thế gian cười,
“Còn hơn cam phụ với người tri âm.
“Duyên xưa âu chẳng se lầm,
“Bao giờ kéo hết tơ tằm mà hay!
“Công đâu nghĩ mướn lo vay,
“Dẫu mòn bia đá khôn lay tấc lòng.”
Xem chiều nói cũng như không,
Hà Sinh ra ý sượng sùng cáo lui.

Khách đà về chốn tây trai,
Một mình một bóng đứng ngồi sao yên.
Quyết tìm khắp nước non tiên,
Đem duyên giai lão đính nguyền lai sinh.
Giải là giủ sẵn bên mình,
Cũng liều trắng nợ, trần tình thử xem!
Gió hương đâu bỗng lai rèm,
Bóng hoa đâu đã trước thềm lả lơi.
Đương khi rằng một rằng hai,
Sịch hài nàng đã tới nơi bao giờ!
Mặt trông mặt, hãy ngẩn ngơ,
Nào hay đã tỉnh còn ngờ rằng mê.
May sao may khéo đi về,
Chậm chân chút nữa còn gì là ai!
Mắt nhìn chung cả con ngươi,
Bên lòng mừng tủi, bên lời hợp tan,
Sinh rằng: “Từ vắng phương nhan.
“Lòng theo trăng, bể, mây ngàn thiếu đâu.
“Quản bao bể rộng sông sâu,
“Đã toan quên cả cái cầu tư sinh.
“Dám đâu riêng phụ với tình,
“Dưới vàng có đất, trên xanh có trời.
“Kể chi những sự đã rồi,
“Sắt son ghi tạc một lời từ đây.”
Thưa rằng: “Cầm đã bén dây,
“Có tri âm đó, cuốn dây sao đành.
“Cũng công hương lửa ba sinh,
“Nguồn ân chưa cạn, sóng tình còn xao.”
Đinh ninh gắn bó tất giao,
Trước sau nối gót trướng đào song song.
Vườn xuân hoa đã quen ong,
Từng xa xôi lắm, lại nồng nàn thêm.
Mấy thu gối ấm chăn êm,
Cửa cài then nghĩa, phòng niêm khóa tình.

Trên đào vừa thấy tinh oanh,
Gốc giao sớm đã nối cành Quế Yên.
Chân Nhi rơi chút dấu tiên,
Một mai dành để dõi truyền thi thư.
Sinh càng chăm chút sớm trưa,
Cá mong rẽ sóng, rồng chờ tung mây.

Đường trời chưa mỏi cánh bay,
Thung dung nàng lại giãi bày một hai.
Rằng: “Coi cho thấu sự đời,
“Giam danh khóa lợi, những người thế gian.
“Trời thu mây hợp, lại tan,
“Ngày xuân hoa nở, hoa tàn mấy năm.
“Gẫm trong tám, chín mươi năm,
“Bóng câu cửa sổ, dễ cầm mãi ru!
“Thịt xương gửi đám Diêm Phù,
“Sinh sinh hóa hóa trong lò hồng quân.
“Đố ai vượt khỏi lòng Trần,
“Sông mê chìm nổi, thế nhân đã đầy.
“Anh hùng những mặt xưa nay,
“Trăm năm nát vớt cỏ cây cũng là.
“Dần dần tháng trọn ngày qua,
“Má hồng mấy chốc đã ra bạc đầu.
“Thôn hoang mấy nắm cổ khâu,
“Ấy nền Đồng Tước, hay lầu Nhạc Dương.
“Chưa đầy một cuộc tang thương,
“Non đồng cũng lở, núi vàng cũng nghiêng.
“Sao bằng ngày tháng cung tiên,
“Vui chung tám cõi, xuân riêng bốn mùa.
“Dọc ngang bốn bể, năm hồ,
“Khắp trong ba cõi chín châu mặc dầu.
“Ra vào kim khuyết quỳnh lâu,
“Treo tranh yên thủy, giắt bầu kiền khôn.
“Đi về tuyết điếm hoa thôn,
“Thông rền nhịp phách, suối tuôn ngón đàn.
“Một này trong thú thanh nhàn,
“Mấy trăm mươn cảnh nhân hoàn đọ sao!
“Khuyên chàng sớm nghĩ lấy nao,
“Gà l
ng, hạc nội, bên nào là hơn?”

Mảnh riêng sinh những bàng hoàng,
Tuy say cõi tĩnh, chưa tan lòng phàm.
Trót xưa túi sách con gươm,
Ví ta Sào, Hứa, ai làm Y, Chu?
Thưa rằng: “Đã tiếng trượng phu,
“Sự đời vinh nhục chi cho bận lòng.
“Ví ham nghìn tứ, muôn chung,
“Con chim bay mãi cũng trong khuôn trời.
“Làm chi cho bạn tiên cười,
“Ai vui viên hạc, ai vui yên hà.
“Vẩn vơ trong đám phồn hoa,
“Ba mươi sáu động, ai là chủ nhân?”
Sinh nghe tỉnh chuyện tiền nhân,
Rửa dần bụi tục, tỏ dần lối mê.
Rằng: “Xưa Hoàng Đế, An Kỳ,
“Nào phương thoát hóa tu từ sao đây?”
Nàng rằng: “Thiên đạo nhiệm thay,
“Kiều, Tùng xưa cũng thế này chứ sao!
“Vả chàng dự bậc thanh tao,
“Mà xem trong sổ Tiên Tào có tên.
“Học sao cho hết chân truyền,
“Tu sao cho hết tinh huyền thì tu.”

Tay trao một đạo tiên phù,
Một phương hỏa tảo, một lò kim đan.
Đường tu sẵn cách khảo bàn,
Rượu Sen thắm giọng, Trà Lan thơm lòng.
Dần theo gió liễu, trăng đồng,
Thân phàm như chấp cánh lông nhẹ nhàng.
Đương khi lốt trắng điểm vàng,
Tỉnh say Vương Mẫu, mơ màng Lão Quân.
Mây đưa năm sắc tường vân,
Hạc đâu đôi chiếc, trước sân đón người.
Dang tay cỡi hạc cả cười,
Nhủ Chân Nhi lại nối lời thề xưa:
“Còn kỳ dậy gió tuôn mưa,
“Mai sau gặp gỡ bấy giờ sẽ hay!”
Nói rồi thẳng rẽ đường mây,
Trông theo cánh hạc về tây tuyệt vời.
Bồng lai riêng một bầu trời,
Màn hoa, cầu đá, mấy nơi thiên thành.

Image

Image

Image

Tam đa, Lựu khai bách tử!

Image

Image

Image



Tên Việt: lựu
Tên Hoa: 石榴花(thạch lựu hoa)
Tên Anh: pomegranate
Tên Pháp: grenadier
Tên khoa học: Punica granatum L.
Họ: Punicaceae

* ổi 番石榴(phiên thạch lựu) Psidium guajava Linn.

橊 lưu, lựu [liu2] 16 (4/12), 6A4A mộc (木) Cây lưu, ta quen gọi là cây lựu. Ngày nay thường dùng chữ lưu 榴. Quả nó nhiều hạt, nên nhiều con trai gọi là lưu tử 橊子. Hoa nó sắc đỏ nên vật gì đỏ cũng hay ví như lưu. Như lưu quần 橊裙 quần đỏ, mùa hè nắng dữ gọi là lưu hỏa 橊火 lửa lựu. 榴 lưu, lựu [liu2] 14 (4/10), 69B4 mộc (木) Như chữ lưu 橊. 榴 [liu2] (lưu, lựu) /pomegranate/ 27060 69B4石 thạch [shi2 dan4] 5 (5/0), 30707 77F3 thạch (石) 1. Đá. 2. Thạch (tạ), đong thì 100 thưng gọi là một thạch, cân thì 120 cân gọi là một thạch. 3. Các thứ như bia, mốc đều gọi là thạch, khảo về các văn tự ở chuông, đỉnh, bia, mốc gọi là kim thạch chi học 金石之學. 4. Cái gì không dùng được cũng gọi là thạch. Như thạch điền 石田 ruộng không cầy cấy được, thạch nữ 石女 con gái không đủ bộ sinh đẻ. 5. Tiếng thạch, một tiếng trong bát âm. 6. Thuốc chữa, dùng đá để tiêm vào người chữa bệnh. 7. Bắn đá ra. 8. Lớn, bền. 石 [dan4] /10 pecks † 石 [shi2] /rock/stone † 石刻 [shi2 ke4] /stone inscription/carved stone † 石南屬 [shi2 nan2 shu3] /heather † 石南樹 [shi2 nan2 shu4] /heath † 石家庄 [shi2 jia1 zhuang1] /(N) Shijiazhuang, capitol of Hebei province in central China † 石板 [shi2 ban3] /slab/flagstone/slate † 石油 [shi2 you2] /oil/petroleum † 石灰 [shi2 hui1] /lime † 石灰石 [shi2 hui1 shi2] /limestone † 石片 [shi2 pian4] /slab † 石狀 [shi2 zhuang4] /stony † 石膏 [shi2 gao1] /plaster † 石英 [shi2 ying1] /quartz † 石頭 [shi2 tou5] /stone/ thanh đình hám thạch trụ 蜻蜓撼石柱 chuồn chuồn lay cột đá, “tì sương” 砒霜, cũng gọi la “tín thạch” 信石 (arsenic, As) uống chết người Trang Tử 莊子 : Ngụy vương di ngã đại hồ, ngã chủng thụ chi thành nhi thật ngũ thạch 魏王貽我大瓠之種,我樹之成而實五石 (Tiêu dao du 逍遙遊) vua Ngụy cho tôi giống bầu lớn, tôi trồng nó thành cây ra quả nặng năm thạch. Nguyễn Du 阮攸 : Ai trung xúc xứ minh kim thạch, Oán huyết qui thời hóa đỗ quyên 哀衷觸處鳴金石,怨血歸時化杜鵑 (Ðộ Hoài hữu cảm Văn Thừa Tướng 渡淮有感文丞相) Nỗi thương cảm thốt ra chỗ nào đều reo tiếng vàng tiếng đá, Máu oán hận lúc trở về hóa thành chim cuốc. Quách Tấn dịch thơ : Lòng thơm chạm trổ lời kim thạch, Máu hận trào sôi kiếp tử quy † 白榴石 [bai2 liu2 shi2] /leucite † 手榴彈 [shou3 liu2 dan4] /(n) hand grenade/ [Tự Điển Thiều Chửu Online]


Entry for March 31, 2008

March 30, 2008

Image

煙花三月…
YÊN HOA TAM NGUYỆT…

Giật mình thấy đã 31/3, tạm post một bài của cụ Lý (mặc dầu trong thơ cụ, tháng ba (tam nguyệt) là tháng ba a.l :D)

Image

李白

黃鶴樓送孟浩然之廣陵

故人西辭黃鶴樓,

煙花三月下陽州。

孤帆遠影碧空盡,

惟見長江天際流。

Image

Lý Bạch

Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng

Cố nhân tây từ Hoàng Hạc lâu,

Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu.

Cô phàm viễn ảnh bích không tận,

Duy kiến Trường Giang thiên tế lưu.

Image

Lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng

Bạn cũ dời chân Hoàng Hạc lâu

Tháng ba hoa khói xuống Dương Châu

Bóng buồm chìm lẫn trong trời biếc

Chỉ thấy Trường Giang vẫn chảy mau

(Người dịch: Trần Trọng San)

Image


WEBSITE LOGOS’ DESIGNER

March 26, 2008
Ông Thạch Lựu Mộc, Alextran(H), có nhờ 123 thiết kế giúp 03 cái logo cho các wesite mới của ông. Các logo này được 123 xác lập trong vòng 0,01 giây dựa trên ý tưởng về loài hoa “hồng thạch lựu” + tứ thơ “Vịnh thạch lựu hoa” của Vương An Thạch tiên sinh 浓绿万枝红一点, 动人春色不须多 (nồng lục vạn chi hồng nhất điểm, động nhân xuân sắc bất tu đa – Xanh mướt muôn nơi hồng “nhất” điểm, KINH bang TẾ tế kệ “vô vi” _ 123 dịch ý) + Tên (khai sinh) của ông Thạch Lựu Mộc +

1. Khởi điểm:

Image


2. Trao đổi:


Image

http://www.smbc.com.vn
http://www.economist.com.vn

http://www.barclaycard.vn


Bích hải triều sinh khúc

March 25, 2008

Cùng với Lạc Anh thần kiếm chưởng là hai môn tuyệt kỹ đắc ý nhất của Đông Tà Hoàng Dược Sư, đảo chúa Đào Hoa Đảo. Đây là một khúc nhạc được tấu bằng ngọc tiêu kèm với nội lực thâm hậu vô song, tấn công vào định lực của đối phương, làm cho đối thủ tâm thần hoảng loạn, như điên như cuồng, không thể kìm chế được bản thân, nếu càng cố vận lực chống đỡ càng dễ dẫn đến tẩu hoả nhập ma. Khúc tiêu này mô tả biển cả mênh mông, vạn dặm phẳng lỳ, xa xa sóng biển từ từ tiến tới, càng gần càng mau, sau cùng thì cuồn cuộn dâng lên, sóng trắng như núi nối nhau, mà trong làn sóng thì cá nhảy kình bơi, trên mặt biển thì gió thổi âu bay, lại thêm yêu ma quỉ mị, quái vật giỡn sóng, thoắt thì núi băng trôi tới, thoắt thì biển nóng như sôi, biến đổi đủ vành, mà sau khi triều lui thì mặt nước phẳng lặng như gương, dưới đáy biển lại là những dòng nước chảy ngầm rất xiết, trong chốn không có tiếng động hàm chứa sự hung hiểm, càng khiến người nghe khúc nhạc này bất giác rơi vào chỗ mai phục, càng không thể đề phòng… Sau Hoàng Dược Sư bị bọn Bành Liên Hổ, Sa Thông Thiên lừa rằng con gái ông là Hoàng Dung đã chết, ông đau buồn bẻ ngọc tiêu đi, tuy sau này có thay bằng thiết tiêu nhưng từ đó không còn thấy khúc Bích hải triều sinh vang lên nữa.

Image

Bích Hải Triều Sinh

Dạt dào sóng biển nhấp nhô
Chút hơi nồng mặn gió xô bốn bề
Không gian như có hương mê
Chân đà ngại bước đường về muốn xa
Phương tây bóng ngả tà tà
Chim trời mỏi mệt là đà cánh nghiêng
Vô tâm gió vẫn triền miên
Biển ùa con nước vỗ miền cát hoang
Xuyến xao xin tiễn ngày tàn
Hoàng hôn vừa tắt trăng vàng đã treo
Biển đêm bóng khách vắng teo
Đại dương trơ trọi sóng reo ầm ì
Bỗng đâu thấy cuộc phân ly
Hai người một khối tình si đượm sầu
Mỗi người mỗi ngả vì đâu
Sao đem minh nguyệt chứng câu tạ từ?
Có nghe tiếng biển gầm gừ
Mắng tình nhân thế sao như trò đùa
Đến trời đất cũng chào thua
Tâm tư mà bán mà mua lòng vòng
Tiếng “yêu” nhẹ tựa tơ hồng
Hỏi đâu còn kẻ long đong vì tình?
Lặng nhìn bích hải triều sinh
Ngớ người nhận thấy sao mình đa tâm
Bốn bề cảnh sắc thanh âm
Không xem lại cứ trầm ngâm chuyện người
Nghĩ đi nghĩ lại nực cười
Nhân tình thế thái mười muơi vậy rồi
Lo chi nhiều để lôi thôi
Triều sinh bích hải xin ngồi với đêm.

Image

Tấu khúc giang hồ

Có đôi lúc chợt thấy lòng bình lặng,
Khi thả hồn trong diệu khúc du dương…

Âm nhạc là gì nhỉ?

Chỉ biết mỗi khi một nhạc khúc cất lên, lòng người lại như đắm chìm trong nhịp điệu dìu dặt của lời ca tiếng hát, trong cung bậc mênh mang đưa tâm hồn vào thế giới vô hình, chất chứa muôn vàn cảm xúc của chính người soạn nhạc. Tinh hoa truyền thống và sự tiếp thu trao đổi giữa nhiều nền văn hoá đã tạo ra chân trời âm nhạc vô cùng đa dạng, tạo ra những thanh âm bất hủ khắc ghi vào mỗi thế hệ con người. Âm nhạc không là nền tảng cấu thành nên cuộc sống, nhưng cuộc sống chân toàn chân mỹ không thể thiếu đi âm nhạc.

Trong thế giới giang hồ – một cuộc sống hư cấu, bên cạnh vòng xoáy khốc liệt cuốn đời người vào đao quang kiếm ảnh, vẫn tồn tại đâu đó những giây phút yên bình lắng đọng trong trái tim hiệp khách. Sắc nắng, cỏ xanh, ánh trăng giữa trời đêm hiu quạnh, tuyết rơi trắng xoá phủ kín một vùng, hương sắc đất trời phả lên mặt hồ phẳng lặng…, và phảng phất giữa những ảo cảnh lãng mạn ấy, âm nhạc chợt xuất hiện như cơn gió được tác giả thổi vào tâm hồn nhân vật, như cánh hoa thanh bình đột ngột hé mở giữa rừng gươm, gửi gắm nét tinh tế trong đời sống tinh thần hiện thực biến “con người” võ lâm trở nên gần gũi và sống động.

Đào Hoa Đảo là vùng đất của vô số cạm bẫy, đúng với hai chữ “đào hoa”, võ công huyền diệu nhất của Hoàng Dược Sư đảo chủ chính là tiếng sáo mê hồn, nhã nhặn thanh thoát như lạc hoa lưu thuỷ, nhưng ma lực có thể sánh ngang phong ba biến ảo bất định. Bích Hải Triều Sinh khúc tấu lên từ ống ngọc tiêu, là điệu nhạc trác tuyệt tái hiện đại hải mênh mông vô lượng, những sinh vật thần kỳ cùng xuất hiện với tiếng thuỷ triều nhè nhẹ vang lên giữa biển xanh. Sóng hiền hoà ôn nhu, chầm chậm tiến tới, cuối cùng trong khoảng lặng im hung hiểm chợt nổi dậy những đợt sóng cuồn cuộn, nhấp nhô nối tiếp nhau. Thanh âm êm dịu như cửa ngõ đưa thần trí đối phương vào chốn chơi vơi vô định, che giấu nguồn kình lực mạnh mẽ chợt thình lình tung đến. Bích Hải Triều Sinh, Thiên Ma Vũ Khúc gắn liền với tên tuổi Đông Tà, âm nhạc đã biến thành những chiêu thức ẩn mình vô cùng lợi hại.


Entry for March 25, 2008

March 24, 2008

https://i1.wp.com/www.felderrushing.net/images/teaplant-camelliasinensis.jpg

遶枕松聲夜瀹茶
TÙNG REO LAY GỐI ĐỐI ĐÊM TRÀ…
@ 123, nhatvannhat inc.

Tiếp theo cuộc du hý cùng cỏ cây hoa lá, để hưởng ứng cái thú uống trà, 123 post hai bài của Ức Trai tiên sinh có liên quan đến trà/cây chè;)

偶成 阮廌

喜得身閒官又冷
閉門盡日少相過
滿堂雲氣朝焚柏
遶枕松聲夜瀹茶
修己但知為善樂
致身未必讀書多
平生迂闊真吾病
無術能醫老更加

Ngẫu thành (I)

Hỉ đắc thân nhàn quan hựu lãnh
Bế môn tận nhật thiểu tương qua
Mãn đường vân khí triêu phần bách
Nhiễu chẩm tùng thanh dạ thược trà
Tu kỉ đãn tri vi thiện lạc
Trí thân vị tất độc thư đa
Bình sinh vu khoát chân ngô bệnh
Vô thuật năng y lão cánh gia.

Ngẫu nhiên thành thơ (I)

Làm quan mà rỗi, sướng thân ta.
Chẳng thiết giao du, cứ ở nhà.
Sáng dậy đốt trầm, mây sát cửa.
Tùng reo bên gối, tối pha trà.
Chăm chỉ tu thân, làm việc thiện.
Đọc nhiều mụ óc, chóng thành ma.
Cái bệnh suốt đời không thực tế,
Về già có vẻ nặng thêm ra.

***

亂後到崑山感作

一別家山恰十年
歸來松匊半翛然

林泉有約那堪負

塵土低頭只自憐

鄕里纔過如夢到

干戈未息幸身全

何時結屋雲峰下

汲澗烹茶枕石眠

Loạn hậu đáo Côn Sơn cảm tác

Nhất biệt gia sơn kháp thập niên
Quy lai tùng cúc bán tiêu nhiên
Lâm tuyền hữu ước na kham phụ
Trần thổ đê đầu chỉ tự liên
Hương lí tài qua như mộng đáo
Can qua vị tức hạnh thân tuyền
Hà thời kết ốc vân phong hạ
Cấp giản phanh trà chẩm thạch miên

Sau loạn về Côn Sơn cảm tác

Xa quê nay đã đúng mười năm
Trở lại, tùng xưa nửa héo tàn
Đã hẹn suối rừng sao nỡ phụ
Cúi đầu cát bụi tự thương thân
Chiến chinh chửa dứt may còn sống
Làng cũ đi qua tưởng mộng lầm
Ước được cất nhà mây xóm núi
Nấu trà, gối đá ngủ mênh mang (*)


Sáu tám (6-8) hai câu cuối:
Bao giờ trên núi làm nhà,
Nước khe gối đá pha trà ngủ say.

@ image 123, nhatvannhat inc.


Tên Việt: trà, chè
Tên Hoa: 茶(trà), 茶樹(trà thụ), 綠茶(lục trà)
Tên Anh: tea plant
Tên Pháp: thé, théier
Tên khoa học: Camellia sinensis (L.) Kuntze [Thea sinensis L., T. assanica]
Họ: Sơn Trà
(Theaceae)

茶 [cha2] (trà) 33590 8336 (10n) — 1 : Cây chè (trà) (Camellia sinensis (L.) Kuntze), lá dùng chế ra các thứ chè uống. 2 : Sơn trà 山茶 (Camellia japonica L. ) một thứ cây lá thường xanh, hoa trắng, có thứ đỏ, dùng làm cảnh chơi. 茶 [cha2] /tea/tea plant † 茶具 [cha2 ju4] /tea set/tea service † 茶匙 [cha2 chi2] /teaspoon † 茶壺 [cha2 hu2] /teapot † 茶杯 [cha2 bei1] /cup/mug † 茶碗 [cha2 wan3] /teacup † 茶葉 [cha2 ye4] /tea/tea-leaves † 茶話會 [cha2 hua4 hui4] /tea party † 茶館 [cha2 guan3] /teahouse/ 茉 [mo4] (mạt) 33545 8309 (9n) ~~ 1 Mạt lị 茉莉 (Jasminum sambac (L.) Aiton) cây mạt lị, hoa thơm dùng ướp chè (trà) được, tức là hoa nhài (Jasmin). Mạt lị hoa tràtrà anh 茶罐 lọ đựng chè (trà), trà thác 茶托 khay chè, “trà tứ” 茶肆 hàng nước, quán bán nước cũng gọi là trà liêu 茶寮, trà cương 茶綱 tụi buôn chè (trà), “nghiệm trà” 釅茶 chè đặc. 釅 [yan4] /strong (of tea)/ † 綠茶 [lu:4 cha2] /green tea/ † 紅茶 [hong2 cha2] /black tea † 花茶 [hua1 cha2] /scented tea [Tự Điển Thiều Chửu Online & CEDICT] Trà Tàu và Ấm Nghi Hưng, Nguyễn Duy Chính


Entry for March 24, 2008

March 24, 2008

Thích nhất loài hoa này,
Vì nó tên là:
Chuối!

= =
= =
= =

PS: Tạm post bức này lên để đánh dấu giai đoạn “Huyền đồng cùng thảo mộc”!!!
(Sau bài viết này sẽ là một loạt các bài viết về cỏ cây hoa lá!)

第483卷018首〖红蕉花〗
书名:《全唐诗》 作者:

红蕉花样炎方识,瘴水溪边色最深。

叶满丛深殷似火,不唯烧眼更烧心。

Image

Tên Việt: chuối
Tên Hoa: 大蕉/甘蕉 (đại tiêu/cam tiêu)
Tên Anh: banana
Tên Pháp: bananier
Tên khoa học: Musa paradisiaca L.
Họ: Chuối
(Musaceae)

芭 [ba1] (ba) 33453 82AD (8n) 1 : Cỏ ba, một thứ cỏ thơm. 2 : Cùng nghĩa với chữ ba 葩. 芭 [ba1] /a herb/banana † 芭蕉 [ba1 jiao1] /plantain (?!)† 芭蕉扇 [ba1 jiao1 shan4] /palm-leaf fan † 芭蕾舞 [ba1 lei3 wu3] /ballet/ 蕉 [jiao1, qiao2] (tiêu) 34121 8549 (16n) 1 : Gai sống. 2 : Cùng nghĩa với chữ tiêu 顦. 3 : Ba tiêu 芭蕉 (Musa basjoo Sieb) cây chuối. Có khi gọi là cam tiêu 甘蕉 (Musa sapientum L.) hay hương tiêu 香蕉 (Musa acuminata Colla). [Tự Điển Thiều Chửu Online & CEDICT]


Hẹn nhau uống trà trên đất Quan họ :D

March 19, 2008

Trong dòng văn hoá và nghệ thuật âm nhạc dân gian chảy từ ngàn xưa, giữa sự đa dạng và đa diện của các dòng dân ca: chèo của Thái Bình, Nam Định, chèo tàu Hà Tây, hát dặm Nghệ An, Hà Tĩnh, ca trù ca Huế, dân ca Nam bộ… vẫn lấp lánh một dòng dân ca riêng biệt, đặc sắc và độc đáo, đó là dân ca Quan họ vùng Kinh Bắc – Bắc Ninh.

Tại một lễ hội quan họ

Quan họ tựa như một làn điệu hội tụ “khí chất” của rất nhiều làn điệu dân ca: cái trong sáng, rộn ràng của chèo; cái thổn thức, mặn mà của hát dặm; cái khoan nhịp, sâu lắng của ca trù; cái khoẻ khoắn, hồn nhiên của dân ca Nam Bộ… Nhưng trên hết, Quan họ mang “khí chất” của chính Quan họ, là hồn của xứ sở Quan họ, là “đặc sản” tinh thần của Kinh Bắc – Bắc Ninh. Có lẽ không người Việt Nam nào lại không nhớ một đoạn hay một vài bài dân ca Quan họ. Dân ca Quan họ nổi tiếng không chỉ là nhờ ở lời ca trữ tình, nồng nàn yêu cuộc sống và tình yêu lứa đôi, hoặc với 200 làn điệu âm nhạc đặc sắc mà còn do những đặc điểm khác hiếm thấy ở những làn điệu dân ca khác. Từ lời ăn tiếng nói hàng ngày cho đến lối ứng xử trong ngày hội, người Quan họ đều từ tốn, phong nhã. Với người Quan họ, ngày xưa khách đến phải là:

“Mấy khi khách đến chơi nhà

Lấy than, quạt nước tiễn trà người xơi

Trà này ngon lắm người ơi

Người xơi một chén cho tôi bằng lòng”

Quan họ bắt nguồn từ lối hát đối đáp giao duyên nam nữ nhằm phục vụ lao động. Dù phương thức có biến chuyển đến đâu thì vẫn giữ cái nền sơ khai là giao duyên lao động. Luật của hát quan họ là bao giờ cũng phải hát đôi, phải đối giọng. Khi một đôi của nhóm bạn hát thì bên này cũng chuẩn bị một đôi khác hát đối lại.

Giá trị của dân ca quan họ cổ truyền được thể hiện không chỉ bằng những bài ca lời đẹp, giọng hát hay, bằng phong cách lịch sự, trang nhã… mà bằng cả những lề lối, tập quán đặc sắc kèm theo nó. Liền anh, liền chị trong quan họ luôn giao du, đi hát với nhau, nhưng không bị sa vào rượu chè, vào những quan hệ buông thả. Khi đi hát thì rất vui vẻ, say sưa, nhưng tránh nhất là thái độ lả lơi, sàm sỡ. Về cách xưng hô, quan họ lịch sự, nhún nhường, thường tự xưng là em, dù đó là nam hay nữ, già hay trẻ, ví như: “Thưa chị hai, chị ba, biết thì ca trước lên để anh em chúng em tiếp bước theo sau”.

Hoặc khi được liền anh mời trầu, liền chị đáp lại:

“Chị em chúng em cả sữa no căng

Ǎn trầu đã vậy biết nói năng thế nào”

Bên liền anh cũng như bên liền chị đều tôn trọng nhau, cho nên trong câu quan họ, họ thường gọi nhau là người.

“Người ơi ! Người ở đừng về

Người đừng tưởng gió trông mây…”

“Người về em dặn người rằng

Đâu hơn người ấy, đâu bằng đợi em”

Trong giao tiếp, quan họ, ngoài việc xưng hô ý tứ, tôn trọng nhau, lời ǎn ý ở cũng được nghệ nhân răn dạy rất chu đáo, không gặp gì nói nấy, gặp gì làm nấy. Các cụ dặn rằng: Đã là người làng quan họ không phải chỉ biết hát mà phải am hiểu cả lề lối, tập quán, phải hiểu từng lời ăn ý ở đến những tập tục ăn nói, lúc đứng lúc ngồi. Quan họ muốn mời nhau về nhà hát phải nói năng ý tứ lắm: “Mời quan họ liền anh sang chơi bên nhà chúng em, trước là thăm thầy mẹ chúng em, sau là cho chúng em học đòi quan họ vài đôi lối…”

Và liền anh đáp lời: “Em đỡ lời chị Hai, chúng em chỉ sợ nắng mưa thì tốt lúa đồng, chúng em nǎng đi lại thì thầy mẹ lại coi thường chúng em ra”.

Ngay trong lúc nói “kháy” nhau, ý muốn nói vốn liếng của các liền anh về quan họ chưa có là bao, đừng tỏ ra ta đây, thì người quan họ cũng rất lịch sự: “Dạ thưa anh Hai, anh Ba… biết thì đi chợ xa, còn chị em chúng em không biết thì đi b
y mươi ba cái chợ gần đấy ạ”.

Khi hát đối đáp, nếu bên liền chị ra một vế đối, bên liền anh đáp đúng thì bên liền chị lên tiếng: “Dạ, thưa liền anh, tương hằng rồi đấy ạ”. Nếu bên liền anh ca sai thì bên liền chị lên tiếng: “Dạ thưa liền anh, ca bất hợp rồi đấy ạ”.

Khi canh hát đã về khuya, quan họ chủ trương mời mọi người giải lao ăn cơm, họ nói bằng một giọng văn hoa, lễ phép, khiêm tốn: “Hôm nay bên liền chị sang bên đất nhà em, anh em nhà em có mâm cơm, thì đầu mâm đĩa muối, cuối mâm đĩa gừng, mâm đan bát đàn, để xin mời đương quan họ dựng đũa, lên chén, để anh em chúng mình được thừa tiếp đấy ạ”.

Trong bữa ăn, các liền anh thấy các liền chị ăn uống nhỏ nhẹ rụt rè thì mời khéo:

“Cơm hẩm ăn với rau dưa

Quan họ làm khách em chưa bằng lòng, đấy ạ”

Liền chị đáp lại:

“Liền anh nói vậy chứ:

Cơm trắng ăn với thịt gà

Tuy rằng ăn ít nhưng mà no lâu đấy ạ”

Và đến lúc phải về, cuộc chia tay thật khó dứt, vì lời ca bao giờ cũng níu chân người ta lại: “Người ơi người ở đừng về…”

Tiếng nói của quan họ thật ý nhị, thật văn hoa. Ngôn ngữ trong quan họ thật mềm mại, khéo léo, tinh tế và đậm đà tình người. Người quan họ không chấp nhận sự thô kệch, vụng về, mà coi trọng sự lịch thiệp, thanh nhã trong mọi cử chỉ, giao tiếp. Lề lối, tập quán trong quan họ tuy không ai soạn thành văn, nhưng từ đời này, qua đời khác mọi người đều tuân thủ. Nếu quan họ nhỡ một lời, làm vụng một việc thì lòng riêng cứ băn khoăn mãi.

Và như sông Cầu không bao giờ cạn, mạch sống của khúc nhạc, lời ca Quan họ cũng không khi nào nhạt phai dù đã trải qua bao đời người và bao nhiêu biến động thời thế. Rời quê hương quan họ, đâu đó lời ca hoà trong gió “Quan họ ở chúng em ra về”… Với sức hấp dẫn mạnh mẽ, tiêu biểu cho văn hoá dân gian, hát quan họ là một tài sản vô giá của dân tộc Việt Nam, nó cần được tiếp tục nuôi dưỡng, trân trọng gìn giữ và lưu truyền lại cho các thế hệ mai sau…