go fishing

Image

Sông Thương nước chảy trong veo,

Thì ta đem giặt cái lèo mũ ta.

Sông Thương nước đục chảy ra,

Thì ta lội xuống để mà rửa chân.

(Khuất Nguyên – Ngư phủ khúc)


Mọi người (ngày 1/4) hăm hở đi “bắt cá”, mình cũng tha thẩn theo “tiên gia” đi đánh cá và thưởng thức hoa đào vậy!:D

Vào khoảng triều Thái Nguyên đời Tấn, có một người ở Vũ Lăng làm nghề đánh cá, theo dòng khe mà đi, quên mất đường xa gần, bỗng gặp một rừng hoa đào mọc sát bờ mấy trăm bước, không xen loại cây nào khác, cỏ thơm tươi đẹp, hoa rụng rực rỡ. Người đánh cá lấy làm lạ, tiến thêm vô, muốn đến cuối khu rừng. Rừng hết thì suối hiện và thấy một ngọn núi. Núi có hang nhỏ, mờ mờ như có ánh sáng, bèn rời thuyền, theo cửa hang mà vô. Mới đầu hang rất hẹp, chỉ vừa lọt một người. Vô vài chục bước, hang mở rộng ra, sáng sủa; đất bằng phẳng trống trải, nhà cửa tề chỉnh, có ruộng tốt, ao đẹp, có loại dâu loại trúc, đường bờ thông nhau, tiếng gà tiếng chó tiếp nhau. Trong đó những người đi lại trồng trọt làm lụng, đàn ông đàn bà ăn bận đều giống người bên ngoài, từ những người già tóc bạc tới những trẻ để trái đào, đều hớn hở vui vẻ.

Họ thấy người đánh cá, rất lấy làm kinh dị, hỏi ở đâu tới. Người đánh cá kể lể đầu đuôi. Họ bèn mời người này về nhà, bày rượu, mổ gà để đãi. Người trong xóm nghe tin, đều lại hỏi thăm. Họ bảo tổ tiên trốn loạn đời Tần, dắt vợ con và người trong ấp lại chỗ hiểm trở xa xôi này rồi không trở ra nữa; từ đó cách biệt hẳn với người ngoài. Họ lại hỏi bấy giờ là đời nào, vì họ không không biết có đời Hán nữa, nói chi đến đời Nguỵ và Tấn. Người đánh cá nhất thiết kể lại đủ cả sự tình, họ nghe rồi đều đau xót, than thở. Những người đứng bên đều mời về nhà mình chơi, đều thết đãi ăn uống. Ở lại chơi vài ngày rồi từ biệt ra về. Trong bọn họ có người dặn: “Ðừng kể cho người ngoài hay làm gì nhé!”.

Ra khỏi hang rồi, tìm lại được chiếc thuyền, bèn theo đường cũ mà về, tới đâu đánh dấu chỗ đó. Ðến quận, vào yết kiến quan Thái thú kể lại sự tình. Viên Thái thú sai ngay người đánh cá trở lại, tìm những chỗ trước đã đánh dấu, nhưng mơ hồ, không kiếm được con đường cũ nữa.

Ông Lưu Tử Ký ở đất Nam Dương là bậc cao sĩ, nghe kể chuyện, hân hoan tự đi tìm lấy nơi đó, nhưng chưa tìm ra thì bị bệnh mà mất. Từ đó không ai hỏi thăm đường đi nữa.

(Chép truyện Suối hoa đào -Nguyễn Hiến Lê dịch)

(陶潛桃花源記

晉 太元中,武陵人捕魚為業,緣溪行,忘路之遠近。忽逢桃花林,夾岸數百步,中無雜樹,芳草鮮美,落英繽紛;漁人甚異之。復前行,欲窮其林。林盡水源,便得一 山。山有小口,髣髴若有光;便舍船從口入。初極狹,才通人;復行數十步,豁然開朗。土地平曠,屋舍儼然,有良田、美池、桑竹之屬;阡陌交通,雞犬相聞。其 中往來種作,男女衣著,悉如外人;黃髮垂髫,並怡然自樂。

見漁人,乃大驚;問所從來,具答之。便要還家,設酒,殺雞作食;村中聞有此人,咸來問訊。自云先世避秦時亂,率妻子邑人來此絕境,不復出焉;遂與 外人間隔。問今是何世,乃不知有漢,無論魏晉。此人一一為具言所聞,皆歎惋。餘人各復延至其家,皆出酒食、停數日,辭去。此中人語云:「不足為外人道 也。」

既出,得其船,便扶向路,處處誌之。及郡下,詣太守說如此。太守即遣人隨其往,尋向所誌,遂迷不復得路。

南陽劉子驥,高尚士也;聞之,欣然親往。未果,尋病終。後遂無問津者。

Đào Tiềm – Đào hoa nguyên ký

Tấn Thái Nguyên trung, Vũ Lăng nhân bộ ngư vi nghiệp, duyên khê hành, vong lộ chi viễn cận. Hốt phùng đào hoa lâm, giáp ngạn sổ bách bộ, trung vô tạp thụ, phương thảo tiên mỹ, lạc anh tân phân. Ngư nhân thậm dị chi, phục tiền hành, dục cùng k
lâm. Lâm tận thuỷ nguyên, tiện đắc nhất sơn. Sơn hữu tiểu khẩu, phảng phất nhược hữu quang, tiện xả thuyền tòng khẩu nhập. Sơ cực hiệp, tài thông nhân. Phục hành sổ thập bộ, khoát nhiên khai lãng, thổ địa bình khoáng, ốc xá nghiễm nhiên, hữu lương điền, mỹ trì, tang trúc chi thuộc, thiên mạch giao thông , kê khuyển tương văn . Kỳ trung vãng lai chủng tác, nam nữ y trước, tất như ngoại nhân, hoàng phát thuỳ thiều, tịnh di nhiên tự lạc.

Kiến ngư nhân, nãi đại kinh, vấn sở tòng lai, cụ đáp chi. Tiện yêu hoàn gia, thiết tửu, sát kê tác thực. Thôn trung văn hữu thử nhân, hàm lai vấn tấn, tự vân tiên thế tị Tần thời loạn, suất thê tử ấp nhân, lai thử tuyệt cảnh, bất phục xuất yên, toại dữ ngoại nhân gian cách. Vấn kim thị hà thế, nãi bất tri hữu, dựu Hán, vô luận Nguỵ, Tấn. Thử nhân nhất nhất vi cụ ngôn, sở văn giai thán uyển. Dư nhân các phục duyên chí kỳ gia, giai xuất xuý tửu thực. Đình sổ nhật từ khứ. Thử trung nhân ngữ vân: “Bất túc vị ngoại nhân đạo dã”.

Ký xuất, đắc kỳ thuyền, tiện phù hướng lộ, xứ xứ chí chi. Cập quận hạ, nghệ Thái thú thuyết như thử. Thái thú tức khiển nhân tuỳ kỳ vãng, tầm hướng sở chí, toại mê bất phục đắc lộ.

Nam Dương Lưu Tử Ký cao thượng sĩ dã, văn chi, hân nhiên thân vãng, vị quả, tầm bệnh chung. Hậu toại vô vấn tân giả.)

Nhân đó Vương Duy có thơ rằng:

王維 – 桃源行

漁舟逐水愛山春,

兩岸桃花夾古津。

坐看紅樹不知遠,

行盡青溪不見人。

山口潛行始隈隩,

山開曠望旋平陸。

遙看一處攢雲樹,

近入千家散花竹。

樵客初傳漢姓名,

居人未改秦衣服。

居人共住武陵源,

還從物外起田園。

月明松下房櫳靜,

日出雲中雞犬喧。

驚聞俗客爭來集,

競引還家問都邑。

平明閭巷掃花開,

薄暮漁樵乘水入。

初因避地去人間,

及至成仙遂不還。

峽裡誰知有人事,

世中遙望空雲山。

不疑靈境難聞見,

塵心未盡思鄉縣。

出洞無論隔山水,

辭家終擬長游衍。

自謂經過舊不迷,

安知峰壑今來變。

當時只記入山深,

青溪幾曲到雲林?

春來遍是桃花水,

不辨仙源何處尋?

Vương Duy – Đào Nguyên hành

Ngư châu trục thuỷ ái sơn xuân

Lưỡng ngạn đào hoa giáp cổ tân

Toạ khán hồng trụ bất tri viễn

Hành tận thanh khê bất kiến nhân

Sơn khẩu tiệm thành thỉ ôi áo

Sơn khai khoáng vọng triền bình lục

Diêu khán nhất xứ toản vân thụ

Cận nhập thiên gia tán hoa trúc

Tiều khách sơ truyền Hán tính danh

Cư nhân vị cải Tần y phục

Cư nhân cộng trú Võ Lăng nguyên

Hoàn tùng vật ngoại khởi điền viên

Nguyệt minh tùng hạ phòng long tịnh

Nhật xuất vân trung kê khuyển huyên

Kinh văn tục khách tranh lai tập

Cạnh dẫn hoàn gia vấn đô ấp

Bình minh lư hạng tảo hoa khai

Bạc mộ ngư tiều thừa thuỷ nhập

Sơ nhân ti địa khứ nhân gian

Cánh văn thành tiên toại bất hoàn

Giáp lý thuỳ tri hữu nhân sự

Thế trung diêu vọng không vân sơn

Bất nghi linh cảnh nan văn kiến

Trần tâm vị tận tư hương huyện

Xuất động vô luận cách sơn thuỷ

Từ gia chung nghỉ trường du diễn

Tự vi kinh quá cựu bất mê

An tri phong hát kim lai biến

Đương thời chỉ kí nhập sơn thâm

Thanh khê kỉ độ đáo vân lâm

Xuân lai biến thị Đào hoa thuỷ

Bất biện tiên nguyên hà xứ tầm.

Image


Bài hát Đào Nguyên

Thuyền trôi giữa suối xuân mơ

Bến xưa đào nở đôi bờ ngát hoa

Ngắm cây chẳng biết đường xa

Ðến Thanh Khê thấy người qua tình cờ

Lần theo động nước quanh co

Cửa hang mở rộng ai ngờ bình nguyên

Cỏ cây mây khói một miền

Nghìn nhà, hoa, lá trúc chen mịt mù

Truyện xưa có kẻ tiều phu

Áo quần Tần Hán dân cư vẫn dùng

Vũ Lăng sum họp vui cùng

Ruộng vườn chăm chỉ chẳng màng chuyện ai

Nhà im trăng tỏ đêm dài

Xôn xao gà chó ban mai ánh hồng

Chợt nghe khách đến mà mong

Dành nhau thăm hỏi xóm làng quê xa

Sớm mai hoa rụng sân nhà

Chiều hôm ngư phủ vượt qua suối về

Xưa vì lánh nạn rời quê

Gặp chốn tiên chẳng muốn về quê đâu

Ai ngờ người ở núi sâu

Cõi trần xa cách mây sầu giăng che

Cảnh tiên khó thấy khó nghe

Lòng trần chưa dứt muốn về quê hương

Núi sông xa cách đoạn trường…

Về rồi lại muốn tìm đường đi xa

Tưởng rằng không lạc lối qua

Ai ngờ cảnh cũ khác ra lúc nào

Nhớ ngày đã vượt núi cao

Rừng mây cách suối là bao dặm đường

Xuân về đào suối ngát hương

Mịt mùng tiên cảnh biết phương nào tìm?

Image

張旭 – 桃花溪

隱隱飛橋隔野煙,

石磯西畔問漁船。

桃花盡日隨流水,

洞在清溪何處邊。

Trương Húc – Đào hoa khê

Ẩn ẩn phi kiều cách dã yên,

Thạch cơ tây bạn, vấn ngư thuyền.

Đào hoa tận nhật tuỳ lưu thuỷ,

Động tại thanh khê hà xứ biên?

Image

Suối hoa đào (Người dịch: Trần Trọng Kim)

Cầu bay cách khói mờ mờ,

Hỏi thăm thuyền cá đậu bờ đá kia.

Suốt ngày nước chảy hoa đi,

Chẳng hay trong suối, động kề mé nao?

Thấp thoáng cầu treo cách khói đồng,

Bờ tây ghềnh đá hỏi ngư ông.

Hoa đào trôi mãi theo dòng nước;

Động ở bên nào mé suối trong?

Image


唐寅 – 桃花庵歌

桃花塢裏桃花庵,
桃花庵裏桃花仙;

桃花仙人種桃樹,

又摘桃花換酒錢。

酒醒只在花前坐,
酒醉還來花下眠;

半醒半醉日復日,

花落花開年復年。

但願老死花酒間,
不願鞠躬車馬前;

車塵馬足貴者趣,

酒盞花枝貧者緣。

若將富貴比貧賤,
一在平地一在天;

若將貧賤比車馬,

他得驅馳我得閑。

別人笑我忒瘋癲,
我笑他人看不穿;

不見五陵豪傑墓,

無花無酒鋤作田。

Đường Dần – Đào hoa am ca

Đào hoa ổ lý đào hoa am

Đào hoa am lý đào hoa tiên

Đào hoa tiên nhân chủng đào thụ

Hựu trích đào hoa hoán tửu tiền

Tửu tỉnh chỉ tại hoa tiền toạ

Tửu tuý hoàn lai hoa hạ miên

Bán tỉnh bán tuý nhật phục nhật

Hoa lạc hoa khai niên phục niên

Đãn nguyện lão tử hoa tửu gian

Bất nguyện cúc cung xa mã tiền

Xa trần mã túc quý giả thú

Tửu trản hoa chi bần giả duyên

Nhược tương phú quý tỉ bần giả

Nhất tại bình địa nhất tại thiên

Nhược tương bần tiện tỉ xa mã

Tha đắc khu trì ngã đắc nhàn

Biệt nhân tiếu ngã thái phong điên

Ngã tiếu tha nhân khán bất xuyên

Bất kiến Ngũ Lăng hào kiệt mộ

Vô hoa vô tửu sừ tác điền.

Lũng đào hoa (Người dịch: Hạt Cát)

Lũng Ðào hoa, am hoa một mái,

Trong hoa am tự tại t
iên hoa.

Tiên hoa trồng cội đào hoa,

Chiết cành ta lấy đổi ra rượu nồng.

Khi tỉnh rượu ung dung kề cận,

Uống say nằm ngủ khểnh dưới hoa.

Tỉnh say ngày lại ngày qua,

Hoa tươi hoa rụng la đà tháng năm.

Chốn ngựa xe chẳng cần luồn cúi,

Ước nguyền rằng chết với rượu hoa.

Bụi xe dấu ngựa cao xa,

Cành hoa chén rượu cùng ta duyên nghèo.

Đem phú quý so đo đạm bạc,

Một đất bằng một ngất trời xanh.

Ngựa xe đem sánh thanh bần,

Người toan bận rộn, ta phần thong dong.

Người cười ta cuồng ngông khờ khạo,

Ta cười người điên đảo ngược xuôi.

Ngũ lăng phần mộ san rồi,

Không hoa không rượu cũng thời ruộng sâu.

Ổ đào trong có am đào,

Tiên trong am mải tiêu dao tháng ngày,

Tay trồng mấy gốc đào đây,

Hái hoa đổi bạc mua ngay rượu về.

Trước hoa tỉnh rượu ngồi kề,

Rượu say lại dưới hoa kia ngủ vùi.

Tỉnh say say tỉnh suốt đời,

Hoa tàn hoa nở năm dời tháng qua.

Chết già trong chốn rượu hoa,

Lụy quỳ xe ngựa biết mà làm chi?

Thú sang thích ngựa xe đi,

Duyên nghèo rượu nọ hoa kia chớ phiền.

Giàu sang sánh thử nghèo hèn,

Một đằng dưới đất, một bên tận trời.

Nghèo hèn sánh ngựa xe chơi,

Ta thời nhàn nhã người thời bon chen.

Người cười ta quá cuồng điên,

Ta cười người tục đâu nhìn ra chi.

Mộ hào kiệt Vũ Lăng kia,

Cày san thành ruộng, còn gì rượu hoa?

Image

Tên Việt: đào
Tên Hoa: 桃(đào), 碧桃(bích đào)
Tên Anh: peach , flowering peach
Tên Pháp: pêcher
Tên khoa học: Prunus persica (L.) Batsch
Họ: Hoa Hường
(Rosaceae)

* đào lộn hột (cashew)
Anacardium occidentale L. (Anacardiaceae) * đào tiên (calabash tree) Crescentia cujete L. (Bignoniaceae) * đào khỉ Actinidia coriacea (Finet et Gagnep.) Dunn. (Actinidiaceae) * kiwifruit (chinese gooseberry) 獼猴桃(mi hầu đào) Actinidia chinensis

桃 đào [tao2] 10(4/6), 6843 bộ mộc (木) 1. Cây đào, sắc đào rất đẹp, cho nên người đẹp gọi là đào tai 桃腮 má đào. Tương truyền rằng bà Tây Vương Mẫu 西王母 cho Hán Võ Đế 漢武帝 quả đào và bảo rằng thứ đào này ba nghìn năm mới chín một lần, cho nên chúc thọ hay dùng chữ bàn đào 蟠桃. đào phù 桃符, các câu đối tết cũng thường dùng hai chữ ấy. Ông Địch Nhân Kiệt 狄仁傑 hay tiến cử người hiền, nên đời khen là đào lý tại công môn 桃李在公門 nghĩa là người hiền đều ở cửa ông ấy cả. Nay gọi các kẻ môn hạ là môn tường đào lý 2. Đào yêu 桃夭, một thơ trong Kinh Thi 詩經 nói việc hôn nhân chính đáng, nay ta gọi con gái đi lấy chồng là đào yêu 桃夭 là vì đó. Đào Tiềm 陶潛 có bài ký gọi là Đào hoa nguyên ký 桃花源記 nói về sự người Tần chán đời, vì thế ngày nay mới gọi người ở ẩn là thế ngoại đào nguyên đào hoa khinh bạc Dư đào 餘桃, Dy Tỷ Hà [Tự Điển Thiều Chửu Online & CEDICT]

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: